Bài 1: Tổng quan về xã hội hóa giáo dục hiện nay
Đã hơn 10 năm kể từ khi Đảng, Nhà nước công bố chủ trương Xã hội hóa các hoạt động xã hội (văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao). Đây là một tư tưởng chiến lược lớn nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ của đất nước, là chìa khóa để đưa các hoạt động xã hội nhanh chóng hội nhập quốc tế. Trong lĩnh vực giáo dục, chủ trương này đã bám rễ và phát triển sâu rộng, mang lại những những hiệu quả to lớn. Kết quả rõ nét nhất của việc triển khai xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là trong toàn xã hội, các cấp ủy Đảng, các bộ, ngành đều nâng cao được nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của từng địa phương. Từ đó đã huy động được rộng rãi các lực lượng xã hội tham gia làm công tác giáo dục, hình thành được phong trào học tập sôi nổi trong nhân dân, nhất là ở các đô thị. Tuy nhiên, trong thực tế chủ trương XHH cũng ngày càng bộc lộ rõ những biến tướng và đôi khi bị lạm dụng, rất cần sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý. Từ số báo này, Báo Cần Thơ giới thiệu với bạn đọc loạt bài “Xã hội hóa giáo dục trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về bức tranh xã hội hóa giáo dục Việt Nam hiện nay.
Xã hội hóa - Khơi dậy mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục
 |
Từ nguồn kinh phí của Dự án Nâng cấp đô thị TP Cần Thơ, Trường Mẫu giáo An Cư nay là Trường Mầm non Phượng Hồng (phường An Cư, quận Ninh Kiều) được nâng cấp khang trang.
Ảnh: ĐỖ CHÍ THIỆN |
Tính đến ngày 30-10-2007, đã có 31 bộ, ban, ngành ban hành cơ chế chính sách thuộc thẩm quyền nhằm đẩy mạnh phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; sắp xếp các trường trực thuộc theo hướng đa dạng hóa. Hầu hết các tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Thành tựu nổi bật nhất mà công tác XHHGD mang lại là đã huy động được một nguồn lực kinh phí to lớn của xã hội cho giáo dục đào tạo. Tỷ lệ ngân sách Nhà nước (NSNN) chi cho giáo dục đào tạo trong tổng chi NSNN không ngừng tăng qua các năm: Năm 2004: 17,1%; năm 2005: 18%, năm 2006: 19%, năm 2007 khoảng 20% và duy trì tỷ lệ 20% cho các năm tiếp theo của giai đoạn 2008-2010. Năm 2006, đối với tất cả các trường công lập từ mầm non đến đại học, tổng chi từ NSNN (kể cả công trái giáo dục và xổ số kiến thiết) là 59.239 tỉ đồng, chiếm 87,2%. Đóng góp của người dân (bao gồm học phí, xây dựng trường học, học thêm...) cho hệ thống giáo dục khoảng 8.658 tỉ đồng (chiếm 12,8%). Nếu tính đóng góp của người dân cho hệ thống giáo dục đào tạo là chi học tập của con em ở trường công lập và cả trường ngoài công lập thì tỷ lệ đóng góp của nhà nước cho giáo dục đào tạo cả nước là 75%, tỷ lệ đóng góp của người dân là 25%.
Đầu tư NSNN về giáo dục hiện đã đảm bảo được kinh phí cho giáo dục phổ cập, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ trọng điểm, ưu tiên vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người. Nhiều dự án tài trợ và vốn vay nhằm hỗ trợ giáo dục các vùng khó khăn, dân tộc ít người đã được triển khai và góp phần tạo cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho trẻ nghèo như: Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn tại 222 huyện với 5.000 trường tiểu học và 15.000 điểm trường lẻ; Dự án giáo dục tiểu học bạn hữu cho trẻ em...
Sự đóng góp của người học và xã hội cho giáo dục đào tạo được thể hiện hết sức phong phú, đa dạng trong thực tế. Thành phố Hồ Chí Minh có chủ trương cho dân vay vốn kích cầu để xây trường học, hỗ trợ lãi suất, thu hồi vốn trong nhiều năm.Tại vùng sâu, vùng xa, có các hình thức hỗ trợ giáo dục rất thiết thực như: dựng lán trại, đóng góp lương thực, mua các vật dụng sinh hoạt, thuê người nấu ăn và trông các em...
Tính đến ngày 25-5-2007, cả nước đã có 150 tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể và hơn 150 cá nhân có đóng góp xuất sắc cho giáo dục đào tạo với tổng số hơn 900 tỉ đồng; hơn 22.356.000 USD; 232.000 bảng Anh và 1.500.000m2 đất. Từ sự hỗ trợ này, hàng nghìn phòng học; hàng trăm nhà công vụ cho giáo viên, nhiều thư viện với các thiết bị dạy học,... đã được đưa vào sử dụng. Hiện nay, ngành giáo dục đã có mối quan hệ và hợp tác với 70 nước, hơn 20 tổ chức quốc tế và hơn 70 tổ chức phi chính phủ. Các nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức quốc tế bình quân hàng năm chiếm 7,5 - 8% tổng kinh phí dành cho giáo dục đào tạo. Đến nay, đã có khoảng 114 chương trình, dự án hợp tác với tổng kinh phí hơn 1.000 triệu USD.
Mạng lưới trường lớp ngày càng khang trang, đa dạng hơn
Nhắc đến việc thực hiện chủ trương XHHGD không thể không nhắc đến sự hình thành mạng lưới trường lớp đa dạng, nhất là sự lớn mạnh của hệ thống trường ngoài công lập. Hiện nay, cả nước có 6.049 cơ sở mầm non ngoài công lập, chiếm 52,2%; 90 trường tiểu học, chiếm 0,61%; THCS: 49 trường, chiếm 0,47% và THPT có 617 trường, chiếm 26,2%; 64 trường trung cấp chuyên nghiệp, chiếm 23,8%; 47 trường cao đẳng, đại học, chiếm 12,87%. Hệ thống trường ngoài công lập đã đóng góp đáng kể vào việc chia sẻ trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi học tập của mọi trẻ em, tăng quy mô giáo dục.
Từ chủ trương XHH, bộ mặt trường lớp đã ngày càng khang trang hơn: Trong 4 năm qua (2002-2006), cả nước có 74.011 phòng học mới được xây dựng; góp phần xóa 4.206 phòng học 3 ca; thanh toán 55.848 phòng học tạm tranh tre nứa lá... Tổng số vốn đã huy động cho kiên cố hóa trường lớp là 9.310 tỉ đồng, NS Trung ương hỗ trợ 5.223 tỉ đồng; NS địa phương: 3.174 tỉ đồng. Các nguồn huy động từ nhân dân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm là 913 tỉ đồng. Tiêu biểu như tại Đồng Nai, trong 3 năm từ 2003-2006 đã huy động 511 tỉ đồng từ NS địa phương thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường lớp học, tạo nên một diện mạo mới về trường lớp trên địa bàn với 2.200 phòng học, 49 ngôi trường mới, nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 35 trường. Tại Vĩnh Long từ năm 2002 đến nay, Hội Khuyến học tỉnh đã ký kết với các tổ chức đoàn thể, vận động các nhà hảo tâm được hơn 20 tỉ đồng để xây trường học, bắc cầu đường giao thông ở vùng sâu, vùng xa; riêng Hội Hữu nghị tỉnh đã vận động các tổ chức phi chính phủ trên 12 tỉ đồng. Tại Cà Mau, hơn 2 năm qua, lực lượng xã hội đã đóng góp gần 30 tỉ đồng, hàng chục ngàn ngày công lao động, 175.000m2 đất xây dựng trường học. Nhiều gia đình đã hiến những mảnh đất ở thị trấn, thị tứ trị giá hàng chục lượng vàng để lập trường học. Đặc biệt, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã đầu tư 35 tỉ đồng xây Trường PTTH Đất Mũi tại huyện Ngọc Hiển. Đây là ngôi trường khang trang nhất của tỉnh.
Có thể khẳng định, qua gần 10 năm thực hiện chủ trương XHHGD đã bước đầu làm tăng mức huy động tài chính từ các tầng lớp nhân dân và cha mẹ học sinh, động viên thúc giục tinh thần tự giác vươn lên dạy tốt - học tốt; dần dần hình thành một mạng lưới cơ sở giáo dục đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học.
Tuy nhiên, những kết quả này chưa phải là cái đích mong đợi mà Đảng, Nhà nước kỳ vọng khi đặt mục tiêu cao nhất của XHH là: xây dựng một xã hội học tập, đảm bảo mục tiêu giáo dục có chất lượng, công bằng và hiệu quả. Các biểu hiện đáng lo ngại khi thực hiện XHH giáo dục hiện nay là: Tăng nguồn lực chưa đi đôi với nâng cao chất lượng; xuất hiện xu hướng “tận thu”, “thương mại hóa” chỉ nhằm huy động tài chính mà chưa chú ý huy động trí tuệ, chất xám. Chưa quản lý tốt các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Việc thành lập các trường ngoài công lập còn mang tính tự phát, thiếu điều tra khảo sát kỹ càng, thiếu chuẩn bị về các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy và học... Các điều kiện để đảm bảo ổn định và nâng cao chất lượng dạy và học của các trường ngoài công lập hiện là vấn đề đáng quan tâm nhất. Các điều kiện này bao gồm: sự ổn định, đồng bộ và chất lượng của đội ngũ giáo viên, trường sở và trang thiết bị, chất lượng của học sinh, sinh viên nhập học. Việc quản lý các khoản phí trong trường công lập, đặc biệt là quản lý chất lượng, tài chính, tài sản của các trường ngoài công lập còn lỏng lẻo.
Việc phân định chính xác các loại hình trường bán công, dân lập, tư thục trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn khi đối chiếu với những quy định pháp lý. Việc chuyển đổi các lớp học, trường học công lập sang bán công, tư thục đang có nguy cơ bị lợi dụng; gây không ít khó khăn cho việc quản lý nhất là quản lý tài chính, tài sản và giáo viên. Về lý thuyết các trường ngoài công lập để được hưởng các chính sách ưu đãi về kinh tế phải hoạt động theo nguyên tắc không vụ lợi. Nhưng trên thực tế, động lực kinh tế đang chi phối một số người tổ chức và quản lý các trường ngoài công lập. Điều này đã và đang dẫn đến những bất công, nguy cơ tăng khoảng cách phân cực “giàu nghèo” trong học sinh ngay từ khi còn nhỏ.
T.T.N (TTXVN)
(Còn tiếp)
Kỳ sau: “Tận thu - Một biểu hiện tiêu cực của xã hội hóa giáo dục”.