“Esperanza Spalding là ai?” - đó là câu hỏi được giới truyền thông lẫn người yêu nhạc đặt ra nhiều nhất sau buổi trao giải Grammy 2011 diễn ra đầu tuần qua. “Người lạ” Esperanza Spalding đã đoạt giải “Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất” - đánh bại “hoàng tử tuổi teen” Justin Bieber, từng được dự đoán cầm chắc giải thưởng này.
Xét về danh tiếng, lượng đĩa bán ra và lượt tìm kiếm trên Internet, Esperanza Spalding không thể sánh bằng Justin Bieber. Nhưng cô được giới chuyên môn đánh giá là một tài năng hiếm gặp của làng nhạc Âu Mỹ, đặc biệt trong dòng nhạc Jazz. Giới truyền thông và người hâm mộ đều nhìn nhận cô là một ca sĩ xứng đáng đoạt mâm vàng Grammy - là nghệ sĩ Jazz đầu tiên đoạt giải thưởng cao quý này.
Esperanza Spalding thường xuất hiện trên sân khấu với dáng gầy gò, kéo đàn cello và hát những ca khúc có giai điệu trầm bổng, ca từ tinh tế diễn tả tâm trạng hỉ, nộ, ái, ố của con người. Giọng hát, tài đàn và ca khúc tuyệt vời của Esperanza Spalding là kết quả của tài năng, niềm đam mê âm nhạc được khơi nguồn, khổ luyện tại những học viện âm nhạc danh tiếng trong suốt thời gian dài, khi cô 5 tuổi đến nay bước sang tuổi 26.
Đam mê nhạc Jazz và đàn cello bắt đầu khi Esperanza Spalding xem nghệ sĩ cello Yo Yo Ma trình diễn trong chương trình “Mister Rogers Neighborhood” cách đây hơn 20 năm. Mẹ cô là giáo viên dạy nhạc cho các trường trung học, nhạc cụ đầu tiên mà Esperanza Spalding tập tành là violin và chơi nó cùng ban nhạc nhi đồng “Chamber Music Society” tại quê nhà Oregon (Mỹ) từ năm 5 tuổi đến 15 tuổi. Trong thời gian này, cô cũng học chơi guitar, kèn oboe, clarinet, bass. Cô có khả năng hát tiếng Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Năm 14 tuổi, Esperanza Spalding có học bổng theo học tại trường trung học nghệ thuật danh tiếng “The Northwest Academy”. Tại đây, cô cũng bắt đầu học viết ca từ cho nhóm nhạc pop, rock địa phương “Noise for Pretend”. Quá trình cộng tác với nhóm nhạc này nhen nhóm trong Esperanza Spalding khát khao được đàn hát những ca khúc do cô sáng tác trên sân khấu.
16 tuổi, Esperanza Spalding lại đoạt học bổng của “Portland State University” - trở thành người trẻ nhất theo học kèn bass. Sau đó, cô rời quê nhà, tiếp tục ghi danh theo học tại “Berklee College of Music” để có điều kiện chuyên sâu hơn về Jazz. Tuy nhiên, chi phí sinh hoạt đắt đỏ có lúc khiến cô kiệt sức, định từ bỏ ước mơ. Năm 2005, ở tuổi 21, cô được “Berklee College of Music” giữ lại, trở thành một trong những giảng viên trẻ nhất trong lịch sử của học viện âm nhạc này.
Khi có việc làm ổn định tại Berklee College of Music, sự nghiệp âm nhạc của Esperanza Spalding cũng bắt đầu. Cô có 3 album, “Junjo” (2006), “Esperanza” (2008) và “Chamber Music Society” (2010) được giới phê bình đánh giá là đã đưa Jazz đến đời sống hiện đại, gần gũi với tâm tư và gu thưởng thức âm nhạc của giới trẻ nhưng vẫn giữ sự trầm mặc và suy tư của Jazz cổ điển. Esperanza Spalding cũng kết hợp cùng nhiều nghệ sĩ khác ghi âm nhiều ca khúc và trình diễn tại nhiều sự kiện như 2009 Nobel Peace Prize Ceremony and Concert, 2009 Park City Jazz Festival, 2010 BET Awards...
XUÂN VIÊN (tổng hợp)