* CÔNG KHOA
Bài 2: Giải quyết bất cập
Theo Bộ NN&PTNT, hơn 10 năm qua, diện tích đất trồng lúa cả nước giảm hơn 300.000 ha và dự đoán sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển hạ tầng cơ sở và chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp
ở các địa phương. Bảo vệ quỹ đất lúa 3,8 triệu ha là chủ trương đúng, nhưng cần giải quyết bài toán công bằng cho người trồng lúa và chính sách hỗ trợ cho các địa phương giữ đất lúa.
* Những vấn đề đặt ra
Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, nước ta đã đặt mục tiêu trở thành “một quốc gia công nghiệp hiện đại” trong tương lai gần. Theo các chuyên gia, điều này đòi hỏi phải dành không gian cho các khu công nghiệp và các khu vực công nghiệp phụ trợ khác cũng như dịch vụ phục vụ cho phát triển nông nghiệp, thương mại, dân sinh
Trong thời gian qua, đã có nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất lúa đã bị mất “vĩnh viễn”. Trước yêu cầu phát triển, dự đoán nhu cầu chuyển đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp sẽ tiếp tục tăng nên việc quản lý chặt đất trồng lúa là rất cần thiết
Để bảo vệ đất lúa có hiệu quả, Chính phủ đã ban hành Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11-5-2012 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Nghị định nêu rõ: Hạn chế tối đa việc chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang sử dụng vào các mục đích phi nông nghiệp; khuyến khích việc khai hoang mở rộng diện tích đất trồng lúa, cải tạo đất lúa khác thành đất chuyên trồng lúa nước. Việc chuyển mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước phải đáp ứng các điều kiện như: phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng; phải có phương án sử dụng đất tiết kiệm tối đa, thể hiện trong thuyết minh tổng thể của dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Ngoài ra, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước phải có phương án sử dụng lớp đất mặt và bù bổ sung diện tích đất chuyên trồng lúa nước bị mất do chuyển mục đích sử dụng
Đồng thời, Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ người sản xuất lúa, ngân sách hỗ trợ sản xuất lúa hàng năm: 500.000 đồng/ha/năm cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất chuyên trồng lúa nước; hỗ trợ 100.000 đồng/ha/năm cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất lúa trên đất lúa khác trừ đất lúa nương được mở rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa...

Đất lúa tại nhiều địa phương ở ĐBSCL đã và sẽ còn tiếp tục bị mất do bởi việc xây dựng đường giao thông, nhà ở và phát triển công nghiệp. Ảnh: VĂN CÔNG
Tuy nhiên, theo phản ánh của các địa phương trồng lúa, giữ quỹ đất lúa, không đơn thuần chỉ là bảo vệ khư khư diện tích. Chính sách giữ đất lúa từ Trung ương đã có, vấn đề còn lại là ứng dụng thực tiễn cần phù hợp từng tiểu vùng sinh thái. Nông dân trồng lúa phải có cuộc sống ổn định và làm giàu từ cây lúa.
Diện tích lúa hiện chiếm 41% đất nông nghiệp, với diện tích gieo trồng chiếm 61% diện tích trồng trọt cả nước và khoảng 80% nông dân Việt Nam là nông dân trồng lúa. Theo các chuyên gia đầu ngành nông nghiệp nước ta, sản xuất lúa gạo ở nước ta với mục tiêu chính là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Cây lúa là cây trồng truyền thống và cũng là thế mạnh của Việt Nam, nhưng để nông dân làm giàu từ cây lúa lại là bài toán khó cho cả ngành chức năng và nông dân. Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL cho rằng, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giữ 3,8 triệu ha đất lúa, nhưng thực tế diện tích đất lúa tại ĐBSCL đang giảm. Công tác quản lý đất lúa chưa chặt chẽ và thu nhập của nhiều người trồng lúa còn bấp bênh, khiến họ chưa gắn bó với nghề. Tới đây, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong điều kiện dân số tăng, dự kiến sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2020 và 120 triệu dân vào năm 2030; thách thức từ biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, thị trường toàn cầu
Do đó, cần thực hiện đồng bộ các chính sách và giải pháp nhằm giữ đất lúa trong thời gian tới.
* Nỗ lực giữ đất lúa
Thực hiện chủ trương giữ đất lúa, các địa phương vùng ĐBSCL đã tiến hành thống kê, rà soát diện tích đất và hộ dân trồng lúa để thực hiện chính sách hỗ trợ. Đồng thời, tích cực rà soát lại các dự án quy hoạch trên địa bàn nhằm hạn chế dự án “treo”, tránh lãng phí trong sử dụng tài nguyên đất và bảo vệ chặt chẽ đất lúa. Tỉnh Bạc Liêu đang có diện tích đất lúa 86.296 ha (trong đó diện tích lúa-tôm hằng năm khoảng 28.000-30.000 ha), diện tích gieo trồng năm 2012 là 178.670 ha. Những năm gần đây, diện tích đất lúa tăng nhẹ, do dịch bệnh xuất hiện trên tôm nhiều, nhiều hộ nuôi tôm chuyển qua mô hình lúa-tôm bền vững hơn. Ngoài ra, tỉnh đã quy hoạch định hướng đến năm 2020 mô hình lúa-tôm có diện tích 40.000 ha. Ông Nguyễn Phương Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh Bạc Liêu, cho biết: “Hơn 1 năm qua, tỉnh đẩy mạnh xây dựng các cánh đồng mẫu lớn, mỗi năm qui mô khoảng 1.000 ha để góp phần tăng thêm thu nhập cho nông dân và ổn định sản xuất lúa ở địa phương, hướng tới sản xuất lúa theo VietGAP. Từng bước tạo thương hiệu lúa của Bạc Liêu, như lúa Một bụi đỏ của địa phương đến nay đã có hướng dẫn địa lý”
Thành phố Cần Thơ, định hướng trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020, nên đất nông nghiệp sẽ giảm dần do tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP Cần Thơ, cho biết, thành phố đã quy hoạch đất lúa từ 91.626 ha (năm 2010) xuống còn 76.230 ha đến năm 2020. Đất lúa giảm, ngành nông nghiệp từng bước xây dựng các vùng sản xuất lúa chất lượng cao, chuyển đổi sản xuất lúa hàng hóa sang sản xuất lúa giống cung cấp cho các địa phương vùng ĐBSCL. Đây cũng là thế mạnh của Cần Thơ, nhằm tăng thu nhập cho nông dân trên cùng một đơn vị diện tích. Ngoài ra, thành phố chọn kỹ thuật sản xuất lúa theo hướng hiện đại hóa, áp dụng cơ giới hóa, điện khí hóa, gắn với xây dựng nông thôn mới. Cánh đồng mẫu lớn là mô hình hiệu quả để từng bước ổn định sản xuất lúa tại địa phương, nâng cao thu nhập cho nông dân.
Theo ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang, những năm qua diện tích đất lúa tại địa phương giảm khoảng 4.000 ha, chủ yếu do chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp như: người dân chuyển từ lúa sang trồng mía, cây ăn trái
Gần đây, nhìn chung tình hình đất lúa và các loại cây trồng trên địa bàn tỉnh đã ổn định, ít có sự chuyển đổi. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang còn 78.300 ha đất lúa. Theo ông Nguyễn Văn Đồng, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Hậu Giang, để thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ về giữ đất lúa, tỉnh đã tích cực rà soát các diện tích đất trồng lúa để thực hiện hỗ trợ cho người sản xuất lúa theo quy định, rà soát lại các dự án quy hoạch trên địa bàn tỉnh nhằm tránh lãng phí trong sử dụng tài nguyên đất và bảo vệ chặt đất lúa. Đồng thời, ngành nông nghiệp cũng đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng chương trình phát triển các cây, con chủ lực của tỉnh và công khai cho người dân biết chương trình này và các địa điểm, loại cây, con được định hướng phát triển. Qua đó, tránh tình trạng người dân tùy tiện chuyển từ đất trồng lúa sang các loại cây trồng, vật nuôi khác
Nhiều địa phương vùng ĐBSCL đã đổi mới trong tư duy công nghiệp hóa dựa trên nền tảng nông nghiệp theo hướng tái cơ cấu lại nông nghiệp, chủ động và hiện đại hóa từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo lợi ích phù hợp cho các bên tham gia chuỗi giá trị sản phẩm, nhất là lợi ích của nông dân-người trực tiếp tham gia sản xuất. Đây được xem là biện pháp hữu hiệu giúp cho địa phương vừa giữ được các diện tích sản xuất lúa và các loại nông sản nói chung, đồng thời giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và giải quyết được vấn đề lợi ích của người nông dân. Đồng Tháp đang tiên phong thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng trên. Tỉnh Đồng Tháp không có sân bay, cảng biển
hỗ trợ phát triển công nghiệp nhưng địa phương này có nhiều lợi thế về tài nguyên đất, nước cho sản xuất nông nghiệp. Tỉnh đang đề cao tái cơ cấu nông nghiệp và tập trung cho phát triển nông nghiệp là chính. Ông Nguyễn Thanh Hùng, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp, cho biết: “Tỉnh đang tích cực giải quyết vấn đề nâng cao lợi ích của nông dân trong các chuỗi sản xuất nông sản, nhất là các lợi ích về kinh tế cho nông dân sản xuất lúa. Trong đó, tỉnh đã và đang đẩy mạnh thực hiện mô hình cánh đồng liên kết trong sản xuất lúa. Qua 4 vụ thực hiện mô hình này, quy mô đã được nâng lên 50.000 ha, doanh nghiệp thực hiện sản lượng bao tiêu tiêu thụ lúa cho nông dân trên 90.000 tấn, giá thu mua tăng hơn 250 đồng/kg so với bên ngoài. Nhìn chung, qua thực hiện mô hình đã giúp nông dân ổn định đầu ra sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, lợi nhuận và góp phần ổn định sản xuất lúa tại địa phương. Tới đây, Đồng Tháp sẽ tiếp tục phát triển mạnh mô hình liên kết sản xuất lúa và xem đây là nhiệm vụ trọng tâm trong tái cơ cấu nông nghiệp. Tỉnh Đồng Tháp cũng đã kiến nghị và được Chính phủ đồng ý, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo sau này phải đảm bảo tốt các điều kiện kinh doanh lúa gạo, trong đó doanh nghiệp phải gắn với vùng nguyên liệu, tiêu thụ lúa của nông dân và xây dựng thương hiệu lúa gạo Việt Nam
|
Tính đến năm 2010, cả nước còn giữ được hơn 4,06 triệu ha đất lúa. Trước tình hình mất diện tích đất lúa ngày càng trầm trọng, Quốc hội đã có chủ trương giữ ổn định 3,812 triệu ha đất lúa đến năm 2020 (Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22-11-2011 về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp quốc gia), trong đó có 3,22 triệu ha đất chuyên trồng lúa nước 2 vụ trở lên
Ngày 2-2-2012, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 124/QĐ - TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, bảo vệ quỹ đất lúa ổn định từ năm 2020 là 3,812 triệu ha, trong đó lúa nước 2 vụ trở lên là 3,2 triệu ha; áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh tiên tiến để đạt sản lượng 41 - 43 triệu tấn năm 2020 và 44 triệu tấn năm 2030, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu
|
Bài cuối: Chìa khóa giữ đất lúa