Bài cuối: Vì mục tiêu ĐBSCL thịnh vượng
Giải quyết bài toán phát triển kinh tế ở ĐBSCL cho những năm tới sẽ phức tạp hơn nhiều so với những thập kỷ trước. Bởi biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, các đập trên thượng nguồn dòng Mekong mang đến nhiều khó khăn, thách thức lớn. Dù vậy, nông nghiệp ĐBSCL vẫn có nhiều tiềm năng cho phát triển và còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều năm. Định hướng lớn vì sự phát triển bền vững ĐBSCL cần quan tâm nhiều hơn nữa đến sinh kế của người dân và giải pháp liên kết vùng.
Ưu tiên đảm bảo sinh kế
Việt Nam và Hà Lan đã đạt thỏa thuận hợp tác chiến lược về quản lý tài nguyên nước, thích ứng biến đổi khí hậu và được ký kết bởi Thủ tướng Chính phủ hai nước vào năm 2010. Bản quy hoạch ĐBSCL đã được phía Hà Lan bàn giao cho Việt Nam vào tháng 12-2013. Quy hoạch cung cấp một loạt các kiến nghị và tầm nhìn lâu dài mà ĐBSCL nên hướng đến để ứng phó với biến đổi khí hậu, sự phát triển thượng nguồn và những tác động bất lợi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Quy hoạch đã xem xét đâu là chiến lược tốt nhất để giải quyết những thách thức khác nhau cho sự tồn tại ĐBSCL. Và thông điệp liên quan là sự phát triển nông nghiệp ĐBSCL trong những năm gần đây đã tụt lại phía sau các khu vực khác như công nghiệp, dịch vụ
Nguyên nhân do công nghiệp hóa ở tất cả các khu vực đồng bằng không có khả năng thực hiện trong điều kiện hiện tại. Trên cơ sở đó, quy hoạch đã kết luận: Tương lai của ĐBSCL là sản xuất nông nghiệp. Nhưng, việc sản xuất này không phải bằng phương thức như hiện tại. Điều cần thiết là tăng giá trị của một khu liên hợp công nông, giữa việc tăng chất lượng thay vì số lượng trong sản xuất. Tương lai ngành nông nghiệp được tạo nên dựa trên bối cảnh văn hóa và sinh thái của đồng bằng. Khi đó, chúng ta có thể thích ứng với những thay đổi có thể xảy ra và nó cho phép tăng trưởng sản xuất nhằm chi trả cho các can thiệp trong tương lai. Quy hoạch ĐBSCL đã tạo ra con đường phát triển "công nghiệp hóa nông nghiệp" đây là chiến lược hợp lý đảm bảo phát triển bền vững.

Nhiều năm nay, nông dân thành phố Cần Thơ chuyển đổi đất 3 lúa sang 2 lúa - 1 màu hiệu quả kinh tế cao. Trong ảnh: Nông dân Thạnh Lộc thu hoạch đậu xanh.
Về các vấn đề quan trọng liên quan đến Quy hoạch ĐBSCL, ông Tom Kompier, Bí thư thứ nhất về tài nguyên nước và khí hậu, Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam, cho rằng: Đối với vùng thượng nguồn, chúng ta đều hiểu rằng, việc canh tác 3 vụ lúa không cung cấp sinh kế hiệu quả cho nông dân như mong muốn. Thực tiễn minh chứng, lúa vụ 3 thực sự làm giảm thu nhập của nông dân. Bên cạnh đó, chính sách 3 vụ lúa/năm đã làm giảm đáng kể diện tích lưu giữ nước điều cần thiết để giúp đối phó với những thách thức đối với ĐBSCL. Rõ ràng, chúng ta cần một chiến lược chặt chẽ nhằm cung cấp sự an toàn cho các khu dân cư, hỗ trợ sinh kế dựa vào nguồn lũ và giúp cân bằng giữa việc duy trì nước lũ và các vấn đề hạn hán, xâm nhập mặn. Việc thay thế các mô hình sinh kế khác có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Đối với vùng ven biển, Quy hoạch ĐBSCL ủng hộ việc thích ứng mặn hơn là chiến đấu với nó. Điều này dựa trên 2 lý do. Thứ nhất, chống lại sự xâm nhập mặn trong nhiều trường hợp đang ngày càng tốn kém hoặc đến cuối cùng vẫn là không thể. Thứ hai, sinh kế dựa vào nguồn nước lợ như nuôi trồng thủy sản mang lại nhiều lợi ích hơn so với trồng lúa nước.
Từ khi Quy hoạch ĐBSCL được trình bày vào năm 2013, theo các chuyên gia cao cấp của Hà Lan, có rất nhiều công việc đã được triển khai thực hiện. Ví dụ như: Dự án thích ứng biến đổi khí hậu và sinh kế bền vững - dự án do Ngân hàng Thế giới ký kết vào năm 2016 đã cung cấp nhiều cái nhìn chi tiết về cách khuyến nghị của quy hoạch thành các dự án cụ thể. Tổ chức phát triển Đức (GIZ) và Bộ Ngoại giao và Thương mại (DFAT) Úc đã tài trợ cho chương trình ICMP và cung cấp rất nhiều thông tin về bảo vệ khu vực đới bờ và phục hồi vùng ngập mặn. Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUNC) và Hà Lan đang tích cực tham gia với các đối tác cấp quốc gia và cấp tỉnh về việc phát triển định hướng trữ nước, được xem là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển ĐBSCL
"Rõ ràng, sự hiểu biết của chúng ta về các vấn đề cấp thiết của ĐBSCL đã tăng dần lên. Các dự án quan trọng cũng đang được thực hiện
Những điều này mở ra chiều hướng phát triển tốt đẹp từ các dự án thúc đẩy sự phát triển, ưu tiên đảm bảo sinh kế cho người dân ĐBSCL theo hướng "không hối tiếc"" ông Tom Kompier nói.
Đặt lợi ích vùng lên hàng đầu
Trước những khó khăn và thách thức đặt ra, như: biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn
, thì yêu cầu cấp thiết và mang tính tất yếu là phải tăng cường các mối quan hệ, liên kết vùng. Cụ thể là các địa phương trong vùng cùng đưa ra những chính sách, mục tiêu phát triển bền vững góp phần phát triển kinh tế - xã hội của vùng và cả nước. Ông Võ Thành Hạo, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, cho rằng: Liên kết vùng là một trong những cơ sở quan trọng để tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế. Liên kết để phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương trong tổng thể lợi thế của toàn vùng, nhằm xây dựng vùng mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng, ổn định về xã hội và phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu. Từ đó, từng bước cân đối ngân sách và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Tháng 11-2016, tại Bến Tre, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng đánh giá cao sáng kiến lần đầu tiên trong cả nước, HĐND vùng ĐBSCL tổ chức hội nghị trao đổi kinh nghiệm với chủ đề "Thúc đẩy liên kết vùng". Trong ảnh: Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng phát biểu tại hội nghị.
ĐBSCL là một vùng địa lý, một không gian chung của 13 tỉnh, thành phố cùng phát triển nền kinh tế địa phương. Điều này rất khó tránh các xung đột lợi ích trong quá trình sử dụng nước, phân bổ công nghiệp, đô thị
Lợi thế của địa phương này đôi khi lại là bất lợi đến lợi ích của địa phương khác. Vì vậy, theo ông Nguyễn Trung Hiếu, Phó Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, muốn xây dựng cơ chế, chính sách trong liên kết vùng, yêu cầu đặt ra là các địa phương vùng ĐBSCL phải xuất phát trên tinh thần tự nguyện. Phải nhận thấy lợi ích của việc liên kết, lấy lợi ích chung, lợi ích của vùng để xác định mục tiêu liên kết. Trong đó, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề: đảm bảo an ninh quốc phòng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, hạn chế ô nhiễm môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nếu không có sự liên kết thì không thể nâng cao năng lực cạnh tranh, không phát huy được lợi thế, tiềm năng của vùng, của địa phương... Các nội dung liên kết, triển khai thực hiện cần có vai trò của Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương trong vùng ĐBSCL và cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc.
Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 6-4-2016. PGS.TS Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, cho rằng: Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và lãnh đạo các địa phương vùng ĐBSCL cần dựa vào Quy chế thí điểm trên và tái cơ cấu ngành nông nghiệp (Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 10-6-2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng giá trị gia tăng và phát triển bền vững). Trên cơ sở đó rà soát và lồng ghép các chính sách phát triển địa phương, vùng qua tiếp cận liên kết, hợp tác và tổng hợp là cơ hội phát triển ĐBSCL bền vững hơn. Mọi sự phát triển đều cần lồng ghép cơ hội nâng cao sinh kế người dân nông thôn đây là điều tối cần thiết cho hiện tại và tương lai vùng ĐBSCL. Bên cạnh đó, thí điểm liên kết 3 tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An liên quan đến phát triển vùng Đồng Tháp Mười cần suy xét và tổ chức thực hiện để rút kinh nghiệm thực hiện ở các tiểu vùng khác.
***
Sau 30 năm đổi mới, vùng ĐBSCL đã, đang và sẽ tiếp tục sứ mệnh là nơi sản xuất lương thực trọng điểm, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu
, ĐBSCL rất cần trợ lực từ những quyết sách mới để phát triển bền vững.
Bài, ảnh: Thanh Long