02/06/2026 - 08:20

Quy định của pháp luật về trẻ em

Hỏi: Người trong độ tuổi nào được pháp luật quy định là trẻ em? Luật Trẻ em quy định những nguyên tắc gì để đảm bảo thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em?

Đáp: Điều 1 Luật Trẻ em quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Các nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, được quy định tại Điều 5, Luật Trẻ em, gồm: bảo đảm để trẻ em thực hiện được đầy đủ quyền và bổn phận của mình. Không phân biệt đối xử với trẻ em. Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em. Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em. Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến trẻ em, phải xem xét ý kiến của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương.

Hỏi: Nhà nước có những chính sách gì để bảo đảm về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em?

Đáp: Điều 42 Luật Trẻ em quy định, Nhà nước có chính sách trợ cấp, trợ giúp, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo độ tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia trợ giúp, chăm sóc trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; hỗ trợ về đất đai, thuế, tín dụng cho tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Trường hợp nào trẻ em cần được chăm sóc thay thế?

Đáp: Theo quy định tại Điều 62, Luật Trẻ em, các trường hợp trẻ em cần chăm sóc thay thế: trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em không nơi nương tựa. Trẻ em không thể sống cùng cha, mẹ vì sự an toàn của trẻ em; cha, mẹ không có khả năng bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em hoặc chính là người xâm hại trẻ em. Trẻ em bị ảnh hưởng của thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang cần được ưu tiên bảo vệ. Trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha, mẹ.

Hỏi: Trong trường hợp nào trẻ em được đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội?

Đáp: Tại Điều 67, Luật Trẻ em quy định chủ tịch UBND cấp xã nơi trẻ em cư trú hoặc nơi xảy ra hành vi xâm hại trẻ em lập hồ sơ đề nghị đưa trẻ em vào cơ sở trợ giúp xã hội trong trường hợp sau đây: trong thời gian làm thủ tục để trẻ em được cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế; không lựa chọn được cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế; áp dụng biện pháp quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 50 của Luật này (bố trí nơi tạm trú an toàn, cách ly trẻ em khỏi môi trường, đối tượng đe dọa hoặc đang có hành vi bạo lực, bóc lột trẻ em). Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm thường xuyên xem xét các trường hợp trẻ em đang được chăm sóc thay thế tại cơ sở để đề nghị chuyển hình thức chăm sóc thay thế.

P.Y (tổng hợp)

Chia sẻ bài viết