Một trong những điểm mới nổi bật, thể hiện tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV là nội dung về “Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường (BVMT), chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH)”. Những vấn đề được nêu trong Dự thảo Báo cáo chính trị cho thấy vấn đề tài nguyên - môi trường và BĐKH giờ đây không chỉ được đặt trong mối quan hệ giữa “giữ gìn và phát triển” mà đã được nâng lên thành một trụ cột của phát triển bền vững, gắn trực tiếp với an ninh tài nguyên, an ninh năng lượng, an ninh sinh thái quốc gia.
Điểm nhấn quan trọng của nội dung này trong Dự thảo Báo cáo chính trị là hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tổng hợp tài nguyên, BVMT, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời thiết lập và vận hành thị trường tín chỉ các-bon trong nước kết nối với khu vực và thế giới. Đây là bước đột phá thể hiện rõ tư duy tiếp cận thị trường và công cụ kinh tế trong BVMT - một hướng đi phù hợp với xu thế phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn mà nhiều quốc gia phát triển đã áp dụng thành công. Đặc biệt, mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 được xác định rõ như một cam kết chính trị mạnh mẽ, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng chính là động lực nội sinh thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, số, bao trùm. Mục tiêu đó cũng tạo ra cơ hội để huy động tối đa các nguồn lực, các cơ chế ưu đãi quốc tế cho quá trình chuyển đổi xanh, phát triển năng lượng tái tạo, ứng dụng công nghệ sạch - lĩnh vực mà Việt Nam có tiềm năng to lớn, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL.
Từ góc nhìn thực tiễn, ĐBSCL - vùng chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH - có thể xem là “phép thử” sinh động của các định hướng về “Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, BVMT, chủ động thích ứng với BĐKH”được nêu trong Dự thảo Báo cáo chính trị. Dự thảo nhấn mạnh yêu cầu phải thực hiện hiệu quả chương trình phòng, chống thiên tai, ứng phó BĐKH vùng ĐBSCL, trong đó chú trọng các giải pháp chống sụt lún, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển; đầu tư hạ tầng thủy lợi thích ứng; di dời và tái định cư người dân ở khu vực rủi ro cao. Những nội dung này nếu được cụ thể hóa bằng cơ chế đặc thù, phân cấp mạnh hơn cho vùng và các địa phương sẽ là nền tảng để ĐBSCL phát triển nhanh, bền vững, trở thành vùng tăng trưởng mạnh của quốc gia trong thời gian tới.
Vấn đề đặt ra là để hiện thực hóa định hướng, mục tiêu về “Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, BVMT, chủ động thích ứng với BĐKH” nêu trong Dự thảo Báo cáo chính trị, cần làm rõ và bổ sung một số vấn đề có tính then chốt.
Thứ nhất, phải có cơ chế điều phối vùng mang tính pháp lý cao để triển khai các chương trình, dự án thích ứng BĐKH liên vùng. Hiện nay, các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL vẫn còn triển khai nhiều chương trình, dự án riêng lẻ, dẫn tới phân tán nguồn lực, thiếu tính tổng thể. Dự thảo nên bổ sung định hướng xây dựng Hội đồng điều phối vùng ĐBSCL với quyền hạn cụ thể trong quy hoạch tài nguyên nước, đất và BVMT, có ngân sách vùng và cơ chế điều phối dự án liên tỉnh.
Thứ hai, cần hoàn thiện hệ thống dữ liệu số về tài nguyên - môi trường, đảm bảo kết nối thống nhất từ Trung ương đến địa phương, từ đất liền ra biển, đảo. Dự thảo đã nêu định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên, môi trường, BĐKH, song để triển khai có hiệu quả, cần quy định rõ trách nhiệm vận hành, cập nhật, chia sẻ dữ liệu và tiêu chuẩn hóa định dạng dữ liệu để tránh tình trạng phân tán, “cát cứ thông tin”, làm suy giảm nguồn lực phát triển.
Thứ ba, nhấn mạnh hơn vai trò của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong điều tra, dự báo, giám sát môi trường và BĐKH. Dự thảo đã đề cập đến việc tăng cường nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực dự báo, giám sát môi trường biển nhưng nên nhấn mạnh hơn vai trò của các trung tâm dự báo khí tượng - thủy văn ở các vùng đồng bằng và ven biển.
Thứ tư, nên bổ sung và làm rõ hơn nội dung tăng cường hợp tác quốc tế về quản lý nguồn nước xuyên biên giới, nhất là với các quốc gia lưu vực sông MeKong. ĐBSCL đã và đang chịu ảnh hưởng nặng nề do tác động của tình trạng biến đổi dòng chảy và khai thác thủy điện ở thượng nguồn sông MeKong. Vì thế, Dự thảo Báo cáo chính trị cần nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong việc chủ động dẫn dắt các sáng kiến hợp tác tiểu vùng MeKong theo hướng cân bằng lợi ích, bảo đảm an ninh nguồn nước gắn với sinh kế của người dân vùng ĐBSCL.
Cuối cùng, để thực thi hiệu quả các định hướng, mục tiêu đã đề ra, cần thiết lập các chỉ tiêu cụ thể về giảm phát thải, tái chế, phục hồi hệ sinh thái và tỷ lệ phát triển nguồn năng lượng tái tạo trong từng giai đoạn 2026-2030, 2030-2050; đồng thời xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá độc lập, công khai, minh bạch, tạo niềm tin xã hội đối với chủ trương phát triển xanh của Đảng và Nhà nước.
Nhìn chung, những điểm mới trong Dự thảo Báo cáo chính trị lần này không chỉ khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong BVMT sống, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược về phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới. Nếu được thể chế hóa đồng bộ, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng xanh và chuyển đổi số quốc gia, đây sẽ là nền tảng vững chắc để nước ta nói chung, vùng ĐBSCL nói riêng sớm vượt qua thách thức, biến thách thức thành cơ hội, vươn mình trở thành một điểm sáng về phát triển xanh trong khu vực Đông Nam Á.
HUY HƯNG