Nước là nguồn tài nguyên hữu hạn nên sử dụng và phát triển tài nguyên nước đang trở thành vấn đề cấp thiết ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam - một đất nước đang phát triển. Do đó cần phải có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để giảm thiểu sự thiếu hụt nguồn nước trong quá trình phát triển bền vững.
* Nguy cơ suy giảm nguồn nước nội địa
Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trên lãnh thổ lượng mưa trung bình hàng năm 1.960 mm, một số nơi đạt đến 3.000-4.000 mm, nhưng cá biệt có nơi dưới 1.000 mm. Về mùa hè thường có bão, lượng mưa trong bão khá lớn, có nơi đạt đến trên 700-800 mm/ngày, lượng mưa 3 ngày liên tục đạt đến trên 1.000 mm.
Với điều kiện địa hình chia cắt và lượng nước mưa lớn, Việt Nam có nhiều sông suối. Các sông có dòng chính từ 10 km trở lên là 2.355 sông; các sông phần lớn là loại sông nhỏ, 96% số sông là loại có diện tích lưu vực dưới 1.000 km2. Mật độ lưới sông trung bình từ 1,5 đến 2,0 km/km2, nhưng có nơi chỉ đạt 0,12-0,15 km/km2. Về nguồn nước trên lãnh thổ trung bình hàng năm nhận được khoảng 650 tỉ m3 lượng nước mưa để sản sinh ra 325 tỉ m3 dòng chảy. Hàng năm, lượng nước mặt qua lãnh thổ chảy ra biển khoảng 880 tỉ m3, trong đó trên 62% từ nước ngoài chảy đến (qua sông Hồng chiếm 5%, sông Cửu Long 57%).

Bảo vệ môi trường và nguồn nước là trách nhiệm của mọi nhà, mọi người. Ảnh: Internet
Nước dưới đất có trữ lượng khá lớn, tổng "trữ lượng nước dưới đất" ước tính khoảng 63.000 triệu m3/s. Phân bố trữ lượng nước dưới đất theo đầu người dao động từ 3.770 m3/người/năm ở Tây Bắc bộ, đến mức thấp nhất là 84 m3/người/năm ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nước dưới đất còn có dạng nước khoáng và nước nóng, nhưng trữ lượng không đáng kể, khoảng 86.10 6 lít/ngày. Lượng dòng chảy các sông phân bố không đều giữa các vùng miền và phân phối rất chênh lệch theo các tháng trong năm. Lượng dòng chảy các sông trong mùa lũ chiếm 70-80% lượng dòng chảy cả năm, còn mùa khô cạn chỉ khoảng 20-30%. Dòng chảy các sông ở mùa lũ thường tập trung vào 2-3 tháng giữa mùa, ở miền Bắc vào các tháng 7-9, ở miền Trung và Nam bộ là các tháng 9-11. Mùa cạn kéo dài, vào giữa mùa cạn lượng nước các sông ít, tháng cạn nhất chỉ chiếm 1-2% lượng nước cả năm.Về mùa lũ thường xảy ra ngập lụt ở vùng đồng bằng, còn mùa cạn thì khô hạn, nhất là ở trung du miền núi, nước mặn xâm nhập sâu vào vùng cửa sông.
Đặc biệt, thủy triều ảnh hưởng vào sông Hồng đến vài trăm cây số, ở sông Cửu Long đến 400 km. Nước sông chứa nhiều bùn cát, về mùa lũ lượng bùn cát trong nước sông chiếm tới 80-90% lượng bùn cát của cả năm. Nước sông bị nhiễm mặn và chua phèn ở vùng đồng bằng, ở Đồng bằng sông Cửu Long có đến trên 2 triệu ha bị nhiễm mặn trong mùa khô. Độ khoáng hóa nước sông thuộc loại trung bình. Một số nơi, một số đoạn sông nước bị nhiễm bẩn bởi các loại chất thải, nước thải. Chất lượng nước dưới đất nói chung còn tốt, ở miền núi và trung du đáp ứng yêu cầu ăn uống sinh hoạt, còn ở vùng gần biển nước bị nhiễm mặn, hàm lượng clo lớn. Dao động nhiều năm của tài nguyên nước phụ thuộc biến động thiên văn, sự hoạt động của con người trên lãnh thổ mà trực tiếp thông qua biến đổi khí hậu. Theo một số nghiên cứu cho rằng, khí hậu đang biến đổi mạnh mẽ, đối với nước ta trong vòng 50-60 năm tới lượng nước nội địa giảm 10-20% so với hiện nay.
* Tiềm ẩn nhiều thách thức
Về khả năng nguồn nước đối với nước ta, tính trung bình theo toàn bộ lượng nước mặt (chưa tính tài nguyên nước dưới đất) đạt 2.657.10 3 m3/km2 và 10.080 m3/người/năm (số dân tính đến 2011 là 87,3 triệu người), thuộc quốc gia có tài nguyên nước vào loại trung bình trên thế giới. Nhưng tính với nguồn nước sản sinh trên lãnh thổ tương ứng sẽ là 981.10 3 m3/km2 và 3.720 m3/người/năm; so với tiêu chuẩn thế giới nếu nhỏ hơn 4.000 m3/người/năm là quốc gia thiếu nước, như vậy nước ta được đánh giá là quốc gia thiếu nước. Nếu cho rằng hiện nay chúng ta dùng 3.400 m3/người/năm thì coi như đã dùng gần hết phần lượng nước sản sinh trong nội địa.
Nước tiềm ẩn nhiều thách thức đối với sử dụng và phát triển tài nguyên nước, đó là lượng nước từ bên ngoài chảy vào lớn, chiếm hơn 62% tổng lượng nước mặt và chủ yếu chuyển qua hạ lưu của hai con sông lớn; lượng nước trên lãnh thổ phân bố không đồng đều giữa các vùng miền và đặc biệt phân phối theo thời gian trong năm rất chênh lệch. 3/4 lãnh thổ là đồi núi, đồng bằng hẹp và thấp; dân số đông và tăng nhanh (mỗi năm tăng trung bình trên 1 triệu người); trình độ dân trí thấp; các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ; đô thị hóa nhanh; bên cạnh đó khí hậu biến đổi thất thường,...
Cũng như nhiều nước khác ở châu Á, tài nguyên nước ở nước ta được khai thác phục vụ trước tiên cho ăn uống, sinh hoạt và nhiều nhất cho sản xuất nông nghiệp, một phần cho công nghiệp và các ngành dịch vụ. Hiện mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 80,6 tỉ m3 nước. Đến năm 2020, con số này dự kiến sẽ tăng lên khoảng 120 tỉ m3, với mức tăng 48%. Trong đó nước cho tưới dự kiến sẽ tăng khoảng 30%, công nghiệp tăng gần 190%, đô thị 150% và nuôi trồng thủy sản 90%. Đến năm 2020, mặc dù sử dụng nước cho tưới vẫn tăng đáng kể và vẫn là sử dụng nước lớn nhất nhưng tỉ trọng này sẽ giảm đi từ 82% xuống 72%.
Nếu tính toán mức sử dụng nước mùa khô dự kiến trong tương lai đến năm 2020 thì tỷ lệ sử dụng nước so với nguồn nước sẵn có cho thấy cụm lưu vực sông Đông Nam bộ ở trên ngưỡng 100%, có nghĩa là sử dụng nước dự kiến sẽ vượt quá tổng khả năng nguồn nước ở lưu vực trong mùa khô. Lưu vực sông Mã sẽ ở ngưỡng 100% và lưu vực sông Kôn sẽ tiến gần sát ngưỡng này. Các lưu vực sông Hồng, Ba, Đồng Nai, Hương và Trà Khúc sẽ ở vùng căng thẳng cao. Các lưu vực sông khác sẽ ở vùng căng thẳng trung bình, và chỉ có lưu vực sông Sê San và Thạch Hãn có thể sẽ không bị căng thẳng, mặc dù các lưu vực sông này sẽ có khả năng bị thiếu nước cục bộ. Như vậy, sự thiếu hụt nguồn nước ở nước ta là hiện hữu.
Nhận thấy sự quan trọng và hiện trạng của tài nguyên nước, từ lâu Nhà nước ta đã đề ra các sách lược về sử dụng và phát triển tài nguyên nước. Trước hết, Luật Tài nguyên nước và các văn bản dưới luật phải được thực thi nghiêm túc; đặc biệt yêu cầu giữ gìn sự hoạt động tự nhiên của các hệ thống sông, nhất là bảo vệ chất lượng nước sông. Để điều hòa lượng nước sông cần coi trọng quản lý lưu vực, trong đó cần giữ gìn lớp thực vật và lớp thổ nhưỡng của lưu vực; lũ quét, lũ ống, sụp lở đất hay xảy ra trong mùa mưa đó là do thiếu quản lý lưu vực sông một cách đúng mức. Việc khai thác sử dụng nước phải đảm bảo hài hòa và thích nghi giữa khả năng nguồn nước và yêu cầu của các hộ dùng nước phải có quy hoạch tương thích với công nghệ phát điện mùa vụ, cây con. Sông ngòi nước ta phần lớn là sông nhỏ, hầu như trên các sông có xây dựng nhiều hồ giữ nước dẫn đến điều bất lợi là khi xây dựng hồ chứa sẽ làm mất đi một phần lớp phủ rừng, môi trường ở hạ lưu, hồ chưa làm thay đổi, thất thoát nước tăng lên như bốc hơi, thẩm thấu...
Trong mùa khô nhiều vùng có hồ chứa mà ở đó vần thiếu nước nghiêm trọng. Một điều quan trọng khác là dùng nước phải đi liền với tiết kiệm nước từ từng hộ gia đình đến đồng ruộng và khu công nghiệp, khu chăn nuôi. Giáo dục mọi người dân có ý thức bảo vệ tài nguyên nước. Đồng thời trong sử dụng và phát triển tài nguyên nước cần có biện pháp kỹ thuật và cần xúc tiến nghiên cứu, đánh giá diễn biến tài nguyên nước do tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu toàn cầu.
* Những tồn tại trong quản lý quy hoạch
Công tác quy hoạch và quản lý, quy hoạch sử dụng tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam còn phân tán. Trên cùng một lưu vực có nhiều ngành, nhiều cơ quan chịu trách nhiệm quản lý. Cụ thể Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao quản lý nhà nước về Quy hoạch lưu vực sông (Nghị định 120/2008 NĐ-CP ngày 1/12/2008 về quản lý lưu vực sông, Luật TNN được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 3, ngày 21 tháng 6 năm 2012). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao Quản lý quy hoạch thủy lợi trong cả nước, mới đây nhất Bộ trình Thủ tướng và được Thủ tướng phê duyệt 3 Quy hoạch Thủy lợi gồm: Quy hoạch thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Quy hoạch thủy lợi vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Quy hoạch thủy lợi khu vực miền Trung giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Các Quy hoạch nêu trên không chỉ bao gồm một mà nhiều lưu vực sông, dẫn đến chồng chéo với các quy hoạch các lưu vực sông đã được phê duyệt trước đây. Bộ Công thương được giao quản lý Quy hoạch hệ thống bậc thang thủy điện, đã trình Chính phủ phê duyệt nhiều hệ thống bậc thang thủy điện trên các sông lớn, nhỏ. Tuy vậy, trong quá trình thực thi có rất nhiều bất cập, nhiều khi không thống nhất với các quy hoạch tài nguyên nước khác. Ví dụ, khi đề xuất quy hoạch hệ thống dung tích phòng lũ cho các hồ chứa đa mục tiêu trên hệ thống sông Vu GiaThu Bồn, ngành nông nghiệp đề xuất dung tích phòng lũ lên đến hơn 1 tỉ m3 nước, nhưng ngành điện quy hoạch và đã xây dựng các hồ chứa thủy điện cũng chỉ dành hơn 100 triệu m3 cho phòng lũ, chưa kể trong khi vận hành mùa lũ do lợi ích tăng sản lượng điện các nhà máy thủy điện lại giảm các dung tích này đi.
Bộ Xây dựng được giao quản lý Quy hoạch cấp, thoát nước sinh hoạt thành phố, thị trấn, trong đó nhiều dự án không gắn với quy hoạch nguồn nước dẫn đến nhiều công trình cấp nước bị hủy bỏ do xâm nhập mặn, nhiều thành phố (ví dụ như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh...) bị ngập úng... UBND thành phố, các tỉnh được phân cấp giao quản lý quy hoạch các lưu vực sông thuộc địa bàn. Nhưng trình độ chuyên môn của các địa phương hạn chế nên chất lượng chưa cao, nhiều công trình trên hệ thống sông nhánh không nằm trong quy hoạch tổng thể lưu vực dẫn đến chồng chéo trong xây dựng công trình và bất cập trong quản lý, vận hành.
Mặc dù theo quy định tại điều 24 trong Luật Tài nguyên nước ban hành tháng 6-2012, các quy hoạch chuyên ngành đều phải có văn bản chấp thuận của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhưng công tác thẩm định còn rất nhiều bất cập, dẫn đến nội dung Quy hoạch tài nguyên nước còn chồng chéo và không phân định rõ trách nhiệm. Quản lý sử dụng và phát triển tài nguyên nước là vấn đề nổi cộm không những ở Việt Nam mà ngay cả ở các nước tiên tiến trên thế giới. Trong quản lý tài nguyên nước nhằm chia sẻ công bằng tài nguyên nước cần tập trung tăng cường công tác quản lý quy hoạch, xây dựng mới các cơ chế chính sách. Bên cạnh đó cũng cần hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến suy thoái tài nguyên nước và có các giải pháp hợp lý nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.
HOÀNG NIÊM (TTXVN)