Mùa khô năm nay, diễn biến xâm nhập mặn ở ĐBSCL đã diễn ra hết sức khốc liệt trên diện rộng trong khu vực rộng lớn của ĐBSCL từ biển Đông dọc theo các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu cho đến đất Mũi Cà Mau và dọc biển Tây vịnh Thái Lan từ Cà Mau sang đến Kiên Giang. Xâm nhập mặn gia tăng cùng với quá trình nắng nóng kéo dài và hạn hán ngay vào đầu mùa khô và quá trình phèn hóa cục bộ cũng như việc suy giảm lưu lượng nước sông Mê Công đổ về, đã diễn ra với quy mô lớn hơn so với các năm trước đây, vì vậy đã gây tác động nhiều mặt đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái cũng như sức khỏe của nhân dân ở khu vực. Đặc biệt những năm gần đây, với quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ canh tác trồng lúa truyền thống sang nuôi trồng thủy sản ở các vùng ven biển trong khu vực ĐBSCL từ bờ biển Đông sang biển Tây vịnh Thái Lan, chưa kiểm soát tốt quy hoạch, hệ thống đê ven biển, cống đập ngăn mặn chưa đồng bộ và bị xuống cấp... đã góp phần làm cho diễn biến xâm nhập mặn hết sức phức tạp do xung đột mặn-ngọt tranh chấp gây ra các sự cố môi trường ở một số tỉnh trong khu vực khá nghiêm trọng.
Tại Cà Mau diễn biến xâm nhập mặn đã diễn ra hầu khắp toàn khu vực, đặc biệt xâm nhập mặn đã lan sang cả vùng ngọt hóa của thuộc vùng quy hoạch trước đây như huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình...phải chịu tác động mặn xâm nhập sâu vào lục địa vào mùa khô năm nay, kể cả vùng Tràm U Minh Hạ thuộc thuộc hệ sinh thái ngập úng chua phèn, nước trên các sông đã tiếp tục bị mặn chi phối. Tác động của xâm nhập mặn cùng với quá trình phèn hóa và gia tăng quá trình bốc hơi nước do nắng nóng cường độ cao và kéo dài gây ra các diễn biến phức tạp về chất lượng nước không kiểm soát, điều tiết nước ảnh hưởng không những đến phát triển canh tác nông nghiệp ở đây, mà cả nuôi trồng thủy sản tại vùng “mỏ tôm” lớn nhất trong toàn khu vực.
Tại vùng bán đảo Cà Mau xâm nhập mặn tiến vào trung tâm bán đảo Cà Mau qua các cửa Mỹ Thanh (Sóc Trăng), cửa Gành Hào (Bạc Liêu), cửa sông Ông Đốc, Cái Lớn, Cái Bé, sông Cái Tàu (Cà Mau)...với tình trạng mặn hóa đang hết sức khó kiểm soát. Canh tác nông nghiệp trong vùng này đang bị hạn hán nặng với nguồn nước ngọt trên sông rạch phục vụ nông nghiệp suy giảm, kết hợp với xâm nhập mặn gây ra các thiệt hại quy mô lớn đến trồng lúa và hoa màu của người dân. Các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng đang ra sức chống hạn cứu lúa, hoa màu và nhằm ngăn chặn xâm nhập mặn sâu vào nội địa. Bán đảo Cà Mau đang đối mặt với diễn biến xâm nhập mặn sâu vào nội địa 60-80km, phèn hóa sắc mặn nước trên kênh rạch nội đồng và hạn hán diễn ra trên diện rộng khá khốc liệt trên toàn vùng.
Tại tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang xâm nhập mặn cũng đang gây các áp lực đến các hệ canh tác nông nghiệp, quá trình xâm nhập mặn này từ biển Tây vịnh Thái Lan chi phối vào vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Mặc dầu áp lực của chế độ nhật triều với biên độ 1-1,2m không bằng phía biển Đông với biên độ triều 2,5-3m, cùng với hệ thống hạ tầng cơ sở cống đập ngăn mặn đã phát huy tác dụng ngăn mặn xổ phèn, nhưng đây là tuyến xâm nhập vô cùng nguy hiểm nếu nguồn nước mặn biển Tây vịnh Thái Lan này tiếp cận vào vùng lưu vực cửa ngõ sông Mê Công đổ bộ vào Tứ giác Long Xuyên tràn vào ĐBSCL làm biến đổi chất lượng nước trên sông Tiền sông Hậu là nguồn cung cấp nước ngọt vô cùng quan trọng đối với cả vùng.
 |
|
Khơi thông nguồn nước chuẩn bị cho vụ tôm chính năm 2010 ở Bạc Liêu. Ảnh: NHẬT HUY |
Tại tỉnh Tiền Giang, vùng chịu sự xâm nhập mặn ở Gò Công Tây với độ mặn trên 10, Gò Công Đông với độ mặn cao nhất trên 20, lan sang cả Long Định, Phú Khánh... với khả năng xâm nhập sâu 30-40km. Tại tỉnh Bến Tre, Trà Vĩnh, Vĩnh Long diễn biến xâm nhập mặn qua các cửa sông Hậu, sông Tiền tiếp tục gia tăng và ngay cả tỉnh Hậu Giang xâm nhập mặn cũng tiến sâu vào trung tâm thị xã Vị Thanh gây nên tình trạng nước nhiễm mặn trên các tuyến sông là nơi cung cấp nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và đời sống của nhân dân...
Xâm nhập mặn ở vùng ĐBSCL đang diễn ra trên diện rộng với quy mô lớn, các tỉnh ven biển trong toàn khu vực đang đối mặt với hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn gia tăng, phèn hóa lan truyền và các tác động từ các nguồn thải chưa được xử lý triệt để trong sản xuất công nghiệp, sinh hoạt đời sống, canh tác Nông-Lâm-Ngư, cùng “cộng tác”, tác động làm suy giảm cả về số lượng cũng như chất lượng nước trên sông rạch và các hệ sinh thái gây nên các tổn thất về kinh tế và môi trường, diễn biến khô hạn làm lúa và cây hoa màu bị chết không cho thu hoạch, cá và tôm nuôi ven biển bị dịch bệnh trên diện rộng tiếp tục gia tăng, phát sinh bệnh đối với gia súc gia cầm chưa khống chế được, cũng như tác động nhiều mặt đến sức khỏe của con người ở khu vực ĐBSCL. Chất lượng môi trường nước trên sông rạch đã cho thấy có sự biến đổi lớn cả về trạng thái và chất lượng rất đáng quan tâm. Lưu lượng nước trên sông Tiền sông Hậu và các nhánh sông trong toàn lưu vực đã suy giảm mực nước và theo dự báo các tháng 3,4,5 lưu lượng nước sẽ xuống mức thấp nhất trong năm, báo động hạn hán gia tăng. Chất lượng nước trên sông rạch ở vùng ngọt hóa có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, nhiễm phèn lan rộng, các vi sinh trong nước Coliforms, độ đục, amoniac trong nước... ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước, đặc biệt là nước dùng cho nhu cầu cấp nước. Môi trường nước ở vùng mặn hóa ven biển gia tăng nhanh độ mặn, hàm lượng sắt, phèn hóa, N-NH3, Coliforms mạnh mẽ,... gây ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, đặc biệt độ đục môi trường cao do nước phù sa và quá trình đào đắp sên vét ao nuôi tôm phát sinh cùng với quá trình chuyển dịch nuôi trồng thủy sản diễn ra quy mô lớn ở vùng mặn hóa ven biển không kiểm soát chặt chẽ, làm gia tăng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển.
Để giải quyết vấn đề xâm nhập mặn nói riêng và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước mặt ở khu vực ĐBSCL nói chung, đảm bảo khai thác sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước, theo chúng tôi cần tập trung giải quyết các nội dung cơ bản sau đây:
Trước mắt, cần tập trung các giải pháp ngăn mặn kịp thời để cứu lúa và hoa màu của nhân dân trong toàn khu vực; vận hành hiệu quả các hệ thống cống, đập, đê bao ngăn mặn ven biển từ khu vực biển Đông sang biển Tây vịnh Thái Lan đảm bảo kiểm soát mặn chặt chẽ, tăng cường hiệu quả công tác thủy lợi ở vùng ngọt hóa để cấp nước ngọt cho canh tác nông nghiệp trong hoàn cảnh hết sức khó khăn hiện nay. Khoanh vùng hiệu quả các kênh nội đồng để tránh gia tăng xâm nhập mặn từ vùng ngập mặn sang vùng ngọt hóa trong toàn khu vực, tập trung kiểm soát hệ thống đê bao ven sông, đặc biệt là các vùng ven biển nơi đối mặt với diễn biến xâm nhập mặn gia tăng để kiểm soát và ứng cứu sự cố xâm nhập mặn vào các vùng canh tác nông nghiệp truyền thống.
Về lâu dài, cần đẩy nhanh công tác quy hoạch thủy lợi cho các vùng canh tác đặc thù ở ĐBSCL như: Vùng canh tác nông nghiệp nước ngọt truyền thống, vùng nuôi trồng thủy sản nước mặn ven biển, vùng luân canh lúa tôm mặn ngọt ở bán đảo Cà Mau, bảo đảm yêu cầu cung cấp và thoát nước gắn liền với nhiệm vụ xử lý môi trường nước, ngăn ngừa sự cố xâm nhập mặn trong các hệ canh tác Nông-Lâm-Ngư rất đa dạng ở ĐBSCL. Đối với khu vực ĐBSCL cần nhanh chóng có kế hoạch tổng thể ứng phó sự cố nước biển dâng do biến đổi khí hậu gây ra. Xây dựng Quy hoạch Bảo vệ môi trường gắn liền với phân vùng sinh thái để sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên nước ngọt sông Mê Công, sử dụng hiệu quả vùng ngập mặn cho phát triển thủy sản, hệ sinh thái rừng ngập mặn... với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển.
Cần có Chiến lược Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công gồm các nước Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, để tạo được sự đồng thuận của các nước trong khu vực cùng chia sẻ quyền hưởng thụ lợi ích sông Mê Công cho phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước với trách nhiệm bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững trong khu vực.
PHẠM ĐÌNH ĐÔN (Chi cục Môi trường khu vực Tây Nam Bộ)