Sỹ Huiên
Bài 1: Đầu tư: Mưa chưa thấm đất!
Bài 2: “Tấm chăn hẹp”
Chuyện đầu tư cho ngành học mầm non (MN) được ví như nuôi con trong gia đình nghèo: quần áo của đứa lớn mặc không còn vừa thì sửa lại cho đứa nhỏ. Với hàng loạt các mục tiêu quan trọng: phổ cập tiểu học, phổ cập THCS rồi phổ cập trung học, thời gian qua, ngành giáo dục tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho ngành học phổ thông với hàng loạt các chương trình dự án lớn. Trong khi đó, trường lớp MN thiếu thốn, không đúng chuẩn, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.
Đầu tư cho giáo dục mầm non: quá khiêm tốn...
Nếu như bậc phổ thông (từ tiểu học đến THPT) được hàng loạt các chương trình, dự án lớn, như: dự án WB, dự án ADB, chương trình xã anh hùng, chương trình kiên cố hóa trường lớp, dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn... đầu tư xây dựng trường lớp thì việc xây dựng cơ sở vật chất cho ngành học MN chỉ có thể trông chờ vào ngân sách. Và ngân sách thì như một “tấm chăn hẹp”, không thể đủ để đáp ứng nhu cầu “êm ấm” cho tất cả. “Nghèo út chịu”- tỷ lệ đầu tư cho ngành học MN là những con số hết sức khiêm tốn.
Quận Ô Môn, một trong những địa phương được đánh giá quan tâm đầu tư cho ngành học MN khá tốt, nhưng trong vòng 4 năm nay, (từ 2004 đến 2007), kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho ngành học này cũng hết sức eo hẹp. Cụ thể, năm 2004, MN được đầu tư trên 2 tỉ đồng, chiếm 12,6% tổng kinh phí đầu tư xây dựng trường lớp của ngành giáo dục quận Ô Môn; năm 2006, số tiền đầu tư tăng lên được hơn 4 tỉ đồng, bằng 15,8% kinh phí và năm 2007 con số này nhỉnh hơn 5,3 tỉ đồng, chiếm 16,4% kinh phí. Chỉ với vài tỉ đồng/ 1 năm học cho toàn bộ hệ thống MN của một quận, huyện, chắc chắn rằng khó mà tính toán đến chuyện đầu tư xây dựng trường lớp đồng bộ, đạt chuẩn. Và như thế thì các quận, huyện chỉ có thể “giật gấu vá vai”, xây dựng mới nơi này một vài phòng, nơi khác nâng cấp và sửa chữa nhỏ một số phòng...
Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cờ Đỏ, nhìn nhận: “So với tiểu học và THCS, phần đầu tư cơ sở vật chất cho MN yếu hơn. Năm nay, kế hoạch đề ra nâng cấp 8 trường thì MN được 2 trường; xây dựng mới 5 trường thì MN được 1 trường”. Theo ông Sơn, hằng năm, huyện đầu tư cho cơ sở vật chất trường lớp MN khoảng 2 tỉ đồng. Khoản đầu tư này chỉ đủ “gói ghém” cho một vài trường. Ví dụ, năm học 2007-2008, Phòng Giáo dục Cờ Đỏ đầu tư cho MN của huyện như sau: Trường MG Thới Lai 1,2 tỉ đồng; Trường MG Trường Xuân A và Trường MG Định Môn mỗi trường 300 triệu đồng; Trường MG Đông Thuận được 150 triệu đồng. Trong khi đó, trường lớp nơi nào cũng thấy cần phải nâng cấp, phải sửa chữa, xây mới. Trường hợp “nóng” nhất vẫn là MG Xuân Thắng, chưa có cơ sở riêng- nhưng theo ông Sơn, đất xây dựng trường thì đã qui hoạch nhưng vốn xây dựng thì chưa có!
 |
| Ở điểm An Dũng, Trường MG Thạnh An 3, trẻ học trong phòng tiểu học, bàn ghế cũng của tiểu học nên khi vẽ, viết, một số bé phải đứng lên. Ảnh: SỸ HUIÊN |
Ở huyện Vĩnh Thạnh, từ năm 2004 - chia tách khỏi huyện Thốt Nốt - đến nay, chưa đầu tư xây dựng mới trường MN, MG nào. Trong khi đó, do chia tách, số trường MN, MG của huyện đã phát triển từ 12 trường vào năm 2004 lên đến 16 trường. Điều này có nghĩa số lượng trường có tăng nhưng cơ sở vật chất chẳng thay đổi bao nhiêu. Ông Phan Văn Hợi, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh Thạnh, bộc bạch: “Khi qui hoạch lại mạng lưới trường lớp, chúng tôi luôn ưu tiên dành quỹ đất để xây dựng trường MN, MG. Tuy nhiên, kinh phí hàng năm chủ yếu chỉ đủ để “chữa cháy” cho những nơi quá bức xúc về cơ sở vật chất chứ không thể tính chuyện xây trường mới, trường chuẩn”. Đến giờ, Vĩnh Thạnh vẫn chưa có trường MN trọng điểm. Trường MN thị trấn Thạnh An sắp được đề nghị công nhận đạt chuẩn quốc gia cũng nhờ Sở Giáo dục và Đào tạo TP đầu tư nâng cấp khoảng 2 tỉ đồng, từ kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia.
Rõ ràng mức đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp MN như trên là chưa tương xứng với vai trò quan trọng của ngành học này. Đầu tư như vậy nên hệ quả tất yếu là ảnh hưởng đến chất lượng nuôi dạy trẻ và ngành học MN chậm phát triển.
Từ chất lượng đến qui mô
Điểm Tân An của Trường MG Thạnh Lộc là 1 phòng học rộng rãi, thoáng mát. Thế nhưng, đây là công trình do Dự án Giáo dục Tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn xây dựng cho Trường Tiểu học Thạnh Lộc 1; Trường Tiểu học Thạnh Lộc 1 chưa sử dụng nên cho Trường MG Thạnh Lộc mượn tạm. Cô Đoàn Thị Tuyết Trinh, Hiệu trưởng Trường MG Thạnh Lộc, băn khoăn: “Trước đây, điểm Tân An phải học nhờ nhà dân. Mới dời về đây khoảng 3 tháng nhưng chẳng biết khi nào thì bị đòi phòng lại”. Lớp có 33 trẻ, được chia làm 3 nhóm, theo 3 độ tuổi tương ứng: 5 tuổi: 15 trẻ; 4 tuổi: 14 trẻ; 3 tuổi: 4 trẻ. Cô giáo Châu Thị Bạch Lê cứ phải xoay vần, vừa cho nhóm 3 tuổi tập nặn, vẽ; vừa cho nhóm 4 tuổi tập hát; rồi quay qua nhóm 5 tuổi dạy chữ cho trẻ. Cô Lê thở dài: “Buổi sáng, tôi dạy lớp chồi ở điểm Thắng Lợi; buổi chiều sang điểm Tân An dạy lớp này. Dạy 1 lớp có 3 độ tuổi rất khó bởi dạy nhóm này thì bị nhóm kia chi phối”.
|
Các mục tiêu của ngành học
MN TP Cần Thơ
* Tỷ lệ huy động trẻ:
- Tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, nhóm trẻ: năm 2010, đạt 15%; năm 2015, đạt 25%.
- Tỷ lệ trẻ 3- 5 tuổi ra lớp MG: đạt 75% vào năm 2010 và đạt 80% vào năm 2015.
- Tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra lớp MG đạt 95% năm 2010 và 99% vào năm 2015.
* Xây dựng cơ sở vật chất:
- Giai đoạn 2007-2010:
+ Mỗi quận, huyện có ít nhất 1 trường trọng điểm cấp quận, huyện đạt chuẩn Quốc gia thành thị.
+ 15% trường đạt chuẩn Quốc gia.
+ 100% xã, phường có ít nhất 1 trường MN hoặc MG.
- Giai đoạn 2010-2015:
+ Có 30% số trường đạt chuẩn Quốc gia.
+ Mỗi năm xây dựng 100 phòng học MG.
(Theo Dự thảo Đề án “Phát triển giáo dục MN TP Cần Thơ giai đoạn 2007-2015”). |
Cô giáo Lê Thị Diễm Thúy, dạy ở điểm An Dũng của Trường MG Thạnh An 3, huyện Vĩnh Thạnh, cũng có cùng tâm trạng với cô Bạch Lê. Lớp của cô Diễm Thúy có 22 trẻ; trong đó, có 6 trẻ 5 tuổi, 10 trẻ 4 tuổi, 6 trẻ 3 tuổi. Cô Diễm Thúy kể: “Khi dạy, tôi lấy chương trình của lớp 5 tuổi làm chính rồi mở rộng ra cho trẻ 4 tuổi và trẻ 3 tuổi”. Đáng nói là điểm An Dũng của Trường MG Thạnh An 3 không có sân chơi, không có nhà vệ sinh và cũng chỉ học nhờ phòng của trường tiểu học. Phòng học này đã xuống cấp trầm trọng lại nằm ngay bên dốc cầu bắc qua kinh Đòn Dông, xe cộ qua lại rất ồn ào. Bàn ghế thì của tiểu học nên mỗi khi viết, vẽ hay tô màu, các bé cứ phải đứng kiễng chân lên. Cô Diễm Thúy nói: “Đồ dùng, đồ chơi phải mang đi mang về hàng ngày vì cửa nẻo không chắc chắn, để lại dễ bị mất. Không có nhà vệ sinh, tôi đành kê gạch cho các cháu “đi” tạm. Không có sân chơi thì các cháu sang chơi bên sân của nhà thờ”.
Sự đầu tư chưa thỏa đáng còn ảnh hưởng đến qui mô phát triển chung của ngành học MN toàn thành phố. So sánh số liệu huy động trẻ ra lớp năm học 2004-2005- thời điểm chia tách TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang- và đầu năm học 2007-2008, cho thấy 4 năm qua, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi ra lớp MN, MG chẳng tăng được bao nhiêu. Cụ thể, cuối học kỳ I năm học 2007-2008, toàn TP có 4.124 trẻ đi nhà trẻ, chiếm gần 13% tổng số trẻ trong độ tuổi; số lượng trẻ ra lớp mẫu giáo là 33.175 cháu, chiếm 66,74% tổng số trẻ từ 3- 5 tuổi; trong đó, 97,3% trẻ 5 tuổi ra lớp MG. Trong khi đó, cuối học kỳ I năm học 2004-2005, tỷ lệ huy động trẻ đến nhóm, nhà trẻ là gần 7% tổng số trẻ trong độ tuổi; trên 63% trẻ trong độ tuổi được đến trường, lớp MG; 93% trẻ 5 tuổi ra lớp MG.
Theo Dự thảo đề án “Phát triển Giáo dục MN TP Cần Thơ giai đoạn 2007-2015”, hiện nay, tỷ lệ huy động trẻ ra lớp của TP Cần Thơ vẫn còn thấp hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Với nhịp độ phát triển như thế, làm sao ngành học MN TP Cần Thơ có thể đạt được những mục tiêu mà Quyết định 149/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án: “Phát triển Giáo dục MN giai đoạn 2006-2015”: đến 2010, cả nước huy động 20% trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ, 67% trẻ 3-5 tuổi và 95% trẻ 5 tuổi ra lớp MG.
* * *
Những nghiên cứu khoa học đã khẳng định giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi có tính quyết định đối với sự phát triển về thể lực, nhân cách, trí tuệ của con người trong tương lai. Vì vậy, MN có vai trò quan trọng như 1 ngành học, tức tương đương với ngành học phổ thông (bao gồm: tiểu học, THCS, THPT). Thế nhưng, những năm qua ngành học MN chịu nhiều thiệt thòi trong việc đầu tư xây dựng trường lớp: tỷ lệ kinh phí đầu tư cho MN thấp hơn so với tiểu học, THCS, THPT; không có những chương trình, dự án quốc gia, quốc tế... Có nhiều lý do để giải thích cho sự bất hợp lý này, như: nhu cầu phát triển tiểu học, THCS, THPT bức bách hơn; ngành giáo dục đang thực hiện các mục tiêu phổ cập... Tuy nhiên, nếu phần nền- giáo dục MN- không được đầu tư hợp lý thì sự phát triển của trẻ ở các bậc học tiếp theo có vững vàng hay chỉ là việc mạo hiểm “xây nhà từ nóc”, “chăm cây từ ngọn”?
Dự thảo Đề án “Phát triển Giáo dục Mầm non giai đoạn 2006-2015” đã đặt ra những mục tiêu rất quan trọng: phát triển giáo dục MN nhằm tạo bước chuyển biến cơ bản, vững chắc và toàn diện, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ; củng cố, mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục MN, đặc biệt chú trọng đối với vùng đồng bào dân tộc, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn...; phấn đấu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp... Liệu với mức đầu tư đều đều như hiện nay, ngành học MN có thể đạt được những mục tiêu trên?
(Còn tiếp)
Kỳ cuối: Xã hội hóa - không thể và có thể