11/11/2010 - 22:08

Xuất khẩu gạo theo Nghị định 109

Lợi hại ra sao?

Chúng tôi đã đặt câu hỏi như trên với một số chuyên gia, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 109 về xuất khẩu gạo. Sau đây là ý kiến của ba chuyên gia về lĩnh vực này.

* GSTS Võ Tòng Xuân: “Cần có thêm công ty cổ phần nông nghiệp”

 

Tôi hoan nghênh Nghị định này. Tôi mong nó ra đời sau cuộc họp tại TP Hồ Chí Minh bàn về chuyện này từ mấy tháng nay. Nó sẽ góp phần làm cho gạo Việt Nam xuất khẩu có giá hơn, có uy tín hơn và nông dân có lợi hơn. Vì sao?

Hiện Thái Lan có 14 nhà xuất khẩu gạo; gạo của họ đạt các tiêu chuẩn xuất khẩu nhờ được làm đồng bộ từ sản xuất đến tiêu thụ, trong đó có vùng nguyên liệu, hệ thống xay xát, kho dự trữ. Còn ở Việt Nam có trên 230 nhà xuất khẩu gạo, mà mỗi lần chỉ có vài “nhà” xuất được vài triệu tấn còn lại chỉ đủ sức xuất vài trăm tấn. Mà rất nhiều “nhà xuất khẩu” lẻ tẻ này không có ruộng lúa, không có nhà máy xay xát, kho dự trữ... nhưng lại ăn lời rất lớn, vì chỉ biết mua gom gạo của thương lái.

Tôi cũng nói rõ tại hội nghị ở TP Hồ Chí Minh khi bàn chuyện này, là phải làm sao để nhà xuất khẩu gạo có vùng nguyên liệu gắn với nông dân để nông dân yên tâm sản xuất. Không thể có hàng chục thương lái mua hàng chục loại lúa trộn lại để bán cho doanh nghiệp xuất khẩu nữa, làm cho gạo Việt Nam cứ mang tiếng xấu hoài, vì chất lượng không đều. Phải gắn “4 nhà” với nhau. Nhưng chính nhà nông cũng phải biết gắn với nhau trong một vài xã để có chung vùng nguyên liệu. 1.000 nông dân phải làm chung một qui trình Viet GAP trong sản xuất lúa để cho ra chung một giống lúa cung cấp cho nhà doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải có nhà máy xay xát, nhà máy sấy, nhà máy đóng gói bao bì, có đăng ký thương hiệu... Như vậy thì mới lấy lại uy tín cho hạt gạo Việt Nam.

Tới đây, về căn bản trong việc xuất khẩu gạo, chúng ta phải làm công ty cổ phần nông nghiệp. Nông dân là cổ đông của công ty này. Công ty phải có đủ vùng nguyên liệu, nhà máy sấy, nhà máy xay xát chế biến gạo, kho dự trữ, nhà máy bao bì, làm thương hiệu... và sản xuất theo qui trình Viet GAP. Tiền lời kinh doanh hằng năm chia cho nông dân.

* TS Võ Hùng Dũng – Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ (VCCI): “Phải bảo đảm lợi ích nông dân”

 

Để kinh doanh xuất nhập khẩu lúa gạo, cần có những điều kiện gắn thương nhân với sự phát triển của khu vực nông nghiệp. Nếu tự do hóa mà không ràng buộc đầu tư phát triển thì những thương nhân bên ngoài vào sẽ hưởng lợi lớn. Chính phủ đầu tư, nông dân hưởng lợi không nhiều nhưng thương nhân thuần túy mua bán sẽ thu lợi nhờ đầu cơ hoặc móc nối nhau trong việc phân chia thị trường.

Vẫn có ý kiến không tán thành, cho rằng Nghị định 109 hạn chế quyền tiếp cận mua bán của thương nhân, nhất là thương nhân nước ngoài và thương nhân Việt Nam chuyên hoạt động mua bán. Tuy nhiên, qua những nghiên cứu của tôi, những qui định của Nghị định 109 như vậy là cần thiết. Lúa gạo là ngành hàng không thể tự do hóa một cách thiếu cân nhắc. Sự xáo trộn ở thị trường lúa gạo là cực kì nguy hiểm. Thương nhân nước ngoài với năng lực của họ, khả năng về vốn của họ, rất có thể làm bóp méo thị trường này chỉ trong một thời gian ngắn. Khi đó muốn sửa chữa cũng khó mà làm được. Phải có lộ trình để bảo đảm lợi ích của nông dân, nâng đỡ lực lượng trong nước.

Các nhà kinh doanh lúa gạo phải là những người gắn bó với lợi ích của nông dân lâu dài. Tôi ủng hộ các chính sách đảm bảo lợi ích của nông dân và thị trường lưu thông bình thường. Sau một thời gian thực hiện, sẽ bộc lộ những khuyết điểm, khi đó có thể xem xét điều chỉnh để phù hợp với những cam kết gia nhập WTO. Nhưng làm gì thì làm cũng phải bảo đảm rằng lợi ích của nông dân không bị phương hại, thị trường không bị bóp méo. Việc mở cửa sớm mà không cân nhắc, nhất là với lúa gạo, là điều không nên.

* TS Lê Văn Bảnh - Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: “Chưa thấy rõ quyền lợi của nông dân”

 

Trong thời gian qua, việc quản lý thị trường xuất khẩu gạo còn nhiều bất cập. Có quá nhiều đầu mối xuất khẩu; cạnh tranh không lành mạnh; để xảy ra hiện tượng tranh mua, tranh bán làm thiệt hại nhiều cho nguồn lợi của đất nước. Một số doanh nghiệp được phân bổ chỉ tiêu xuất khẩu trong khi thực lực chẳng có gì; không có giải pháp nâng cao chất lượng hạt gạo cũng như nâng chuỗi giá trị của nó, để xảy ra hiện tượng cai đầu dài, bán chỉ tiêu... làm bất bình nhiều người, do vậy, cần có giải pháp ngăn chặn.

Nội dung chính của Nghị định 109 là doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo phải đáp ứng 3 điều kiện, và thêm điều kiện phải trữ ít nhất10% lượng gạo xuất khẩu 6 tháng trước đó. Nhìn qua thì thấy phần nào đó có thể hạn chế được những bất cập như tôi vừa nói, làm cho các đơn vị nhỏ muốn kinh doanh phải liên kết lại với nhau, giúp họ chuyên nghiệp hơn trong kinh doanh xuất khẩu gạo.

Nhưng xem kỹ thì thấy Nghị định này tuy đã được bàn thảo cả năm nhưng có vẻ là “chữa cháy”, không có tính vĩ mô cao và không căn cơ lắm, chỉ giúp loại bỏ bớt một phần đầu mối nhỏ lẻ, còn các “đại gia” thì mừng. Nó đáp ứng điều kiện cần nhưng chưa đủ. Vấn đề sản xuất tiêu dùng lúa gạo hiện hay là cải cách phương thức sản xuất, làm sao có liên kết “4 nhà” mà chủ lực là người sản xuất và doanh nghiệp. Muốn vậy, nông dân phải có vùng nguyên liệu, muốn có sản phẩm chất lượng, đảm bảo yêu cầu số lượng doanh nhiệp cần phải đặt hàng, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, đầu tư vào vùng nguyên liệu, tạo thương hiệu với thị trường. Nông dân cũng phải liên kết hợp tác trong sản xuất để làm đối tác quan trọng đối với doanh nhân. Từ đó mới nhờ kho tàng tốt, xử lý khâu sau thu hoạch tốt, làm cơ sở nâng cao chuỗi giá trị của hạt gạo Việt Nam.

Tôi chưa rõ ý của Nghị định này về việc “Thương nhân phải dự trữ tối thiểu 10% lượng gạo đã xuất khẩu 6 tháng trước đó”. Bởi vì vấn đề an ninh lương thực, tồn trữ lúa gạo thì đã có Cục Dự trữ quốc gia lo?!

Xuất khẩu gạo thông qua Cảng Cần Thơ. Ảnh: ĐỖ CHÍ THIỆN 

Thực tiễn lâu nay, thương lái, tức là bạn hàng, đã giúp ích rất đắc lực và là cầu nối chưa thể thiếu của nông dân và doanh nghiệp. Họ thuận mua, vừa bán, tuy đôi khi cũng có hơi ép giá, nhưng nay thì Nghị định 109 qui định: “Khi mua lúa, gạo hàng hóa xuất khẩu, thương nhân có trách nhiệm thông báo với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương các điểm mua lúa, gạo và công bố các điểm mua này để người dân biết; niêm yết giá mua theo chất lượng, chủng loại lúa, gạo hàng hóa để tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân trực tiếp giao dịch” thì không biết có dễ thực hiện hay không, vì như vụ hè thu vừa rồi giá cả thay đổi hàng ngày thì việc thông báo giá này có còn giá trị gì?

Nên chăng Chính phủ cần có chiến lược vẹn toàn hơn, vì Nghị định này cho thấy, hình như chưa làm rõ được vai trò và quyền lợi nông dân...

HUỲNH KIM (thực hiện)

Nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo có hiệu lực từ ngày 1-1-2011. Theo đó, thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải đáp ứng đủ 3 điều kiện. 1/ Phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; 2/ Có ít nhất 1 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn lúa, phù hợp với quy chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT); 3/ Có ít nhất 1 cơ sở xay, xát lúa, gạo với công suất tối thiểu 10 tấn lúa/giờ, phù hợp quy chuẩn  của Bộ NN&PTNT.

Kho chứa, cơ sở xay xát phải thuộc sở hữu của thương nhân và phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có lúa, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển quốc tế có hoạt động xuất khẩu lúa, gạo tại thời điểm thương nhân đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. Bộ Công Thương là cơ quan cấp giấy chứng nhận này.

Về dự trữ lưu thông, Nghị định quy định, thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo đã xuất khẩu trong 6 tháng trước đó.

Khi mua lúa, gạo hàng hóa xuất khẩu, thương nhân có trách nhiệm thông báo với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các điểm mua lúa, gạo và công bố các điểm mua này để người dân biết; niêm yết giá mua theo chất lượng, chủng loại lúa, gạo hàng hóa để tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân trực tiếp giao dịch.

Khuyến khích thương nhân mua, lúa, gạo hàng hóa thông qua hợp đồng ký với người sản xuất theo chính sách hiện hành của Nhà nước về tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng.

Chia sẻ bài viết