11/03/2008 - 21:27

Làm thế nào để giữ lại phần đất mua bán không có giấy tờ cụ thể?

Hỏi:

Trước năm 1972, cha tôi có sang lại một phần đất của ông Trương Văn Cảnh để canh tác và không làm giấy tờ vì là bà con thân thuộc. Khi cha tôi qua đời, tôi vẫn sử dụng phần đất này cho đến nay. Vừa rồi, tôi xin điều chỉnh đất đai thì con của ông Trương Văn Cảnh đến đòi lại đất với lý do là trước kia chỉ cho gia đình tôi mượn, không có giấy tờ nào chứng minh. Tôi phải làm thế nào để có thể bảo vệ được quyền lợi của mình, giữ phần đất mà cha tôi đã sang nhượng?

VÕ THỊ NGỌC YẾN

(Tổ 2, khu vực Thới Thuận, phường Thới An Đông,
quận Bình Thủy, TP Cần Thơ)

- Thắc mắc của bà Võ Thị Ngọc Yến được Luật sư Ngô Công Minh, Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý TP Cần Thơ, trả lời như sau:

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người đi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình.

Tại Khoản 1, Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

“Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự”.

Trường hợp chuyển nhượng đất từ năm 1972 nếu không có giấy tờ chứng minh việc chuyển nhượng đất đó, mà trong thời kỳ Nhà nước thực hiện các chính sách về đất đai đã giao cho cá nhân sử dụng thì việc đòi lại đất không được thừa nhận. Bởi lẽ, Khoản 2, Điều 10 Luật Đất đai 2003 khẳng định:

“Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng.Trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sử dụng đất thì thẩm quyền giải quyết được thực hiện như sau (Điều 136 Luật Đất đai).

- Tranh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết (Khoản 1, Điều 136 Luật Đất đai).

- Tranh chấp quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

+Trường hợp Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

+ Trường hợp Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường. Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường là quyết định cuối cùng (Khoản 2, Điều 136 Luật Đất đai).

• NGỌC NGA (thực hiện)

Chia sẻ bài viết