08/06/2026 - 09:24

Khi quyền an cư trở thành thước đo tiến bộ xã hội

Một nền kinh tế không thể phát triển lành mạnh, vững chắc nếu trong khi hàng triệu người lao động vẫn sống chật vật trong những khu phòng trọ tạm bợ thì một dòng vốn lớn của xã hội lại bị hút vào vòng xoáy đầu cơ bất động sản. Đây là nội dung mà nhiều đại biểu tham dự Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2026-2031 (diễn ra tại Hà Nội từ ngày 3-5/6/2026) trăn trở khi đề cập đến vấn đề cải thiện chính sách về nhà ở, giúp người lao động có cuộc sống ổn định. Để giải quyết căn cơ nỗi trăn trở đó, đòi hỏi phải có một cuộc tái cấu trúc cả chính sách nhà ở lẫn thị trường bất động sản theo hướng nhân văn hơn, hiện đại hơn, bền vững hơn.

Điều rất đáng mừng là trong Thông báo số 64-TB/VPTW, ngày 22-5-2026, của Văn phòng Trung ương Đảng về Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (Kết luận) tại buổi làm việc ngày 19-5-2026 với một số cơ quan về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới đã cho thấy một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển quốc gia của Đảng và Nhà nước ta: đưa nhà ở trở lại đúng bản chất là hạ tầng của đời sống, của năng suất lao động, giúp người lao động thật sự được an cư. Bởi lẽ, có một nghịch lý tồn tại ở nước ta rất nhiều năm qua là khi thị trường bất động sản càng phát triển thì giấc mơ an cư của người có thu nhập thấp và trung bình càng trở nên xa vời; khi giá nhà tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập thì không ít người lao động phải dành gần như toàn bộ tuổi thanh xuân để lo trả nợ mua nhà. Trước thực trạng đó, Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác lập một nền tảng có tính đột phá trong tư duy và hành động để tái cấu trúc chính sách nhà ở từ gốc rễ, tái định hình một thị trường bất động sản vì người dân.

Điểm đột phá đầu tiên là đặt quyền có nơi ở hợp pháp làm nền tảng của chính sách phát triển nhà ở. Kết luận nêu rõ: “tiếp cận nhà ở an toàn, phù hợp khả năng chi trả là “thước đo của tiến bộ xã hội”; Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở để hướng tới mục tiêu “mọi người đều có chỗ ở””. Như vậy, từ góc độ chính sách, nhà ở giờ đây không chỉ là hàng hóa của thị trường mà được đặt trong hệ quy chiếu của quyền con người, an sinh xã hội, an ninh đô thị, ổn định quốc gia. Khi quyền tiếp cận chỗ ở trở thành tiêu chí đánh giá tiến bộ xã hội, chính sách nhà ở buộc phải thay đổi theo hướng lấy con người làm trung tâm thay vì lấy lợi nhuận từ đầu cơ làm động lực chính.

Điểm đột phá thứ hai được nêu trong Kết luận là: “Nhà nước không bao cấp về nhà ở, nhưng cũng không hoàn toàn để thị trường tự điều tiết”. Nếu buông lỏng quản lý, thị trường bất động sản rất dễ bị tài chính hóa, trở thành “sòng bạc dòng vốn”, nơi lợi nhuận đầu cơ lấn át nhu cầu ở thực. Vì vậy, mô hình “Nhà nước kiến tạo - thị trường vận hành” được nêu trong Kết luận là lựa chọn hợp lý. Theo đó, Nhà nước giữ vai trò quy hoạch, thiết kế thể chế, kiểm soát đầu cơ, định hướng tín dụng, chuẩn bị quỹ đất, xây dựng hệ thống dữ liệu; doanh nghiệp tham gia phát triển, vận hành với lợi nhuận hợp lý; người dân được tiếp cận chỗ ở an toàn, ổn định, phù hợp khả năng chi trả. Đó là mô hình thị trường có kỷ luật, có trách nhiệm xã hội, có định hướng phát triển nhà ở dài hạn.

Điểm đột phá thứ ba, cũng là điểm nổi bật nhất trong Kết luận, là sự chuyển đổi tư duy phát triển từ “sở hữu nhà” sang “quyền tiếp cận chỗ ở”, với trọng tâm ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê. Nhiều năm qua, quan điểm của đại đa số người dân gần như mặc định rằng phải sở hữu nhà mới là an cư. Tâm lý đó khiến hàng triệu người phải vay nợ kéo dài 20-30 năm, biến phần lớn thu nhập thành chi phí trả lãi ngân hàng. Khi Nhà nước chủ trương phát triển mạnh nhà ở cho thuê cũng đồng nghĩa với việc tái cấu trúc lại dòng vốn bất động sản. Dòng tiền sẽ phải dịch chuyển từ mô hình “phân lô - bán nền - thu tiền nhanh” sang mô hình đầu tư dài hạn, quản trị vận hành và khai thác giá trị sử dụng thực. Điều đó sẽ giúp nhiều người lao động có chỗ ở ổn định, an toàn, giá hợp lý, được pháp luật bảo vệ.

Điểm đột phá thứ tư trong Kết luận là xác định đúng nhu cầu, đúng đối tượng để phân loại lại cấu trúc nhà ở theo 4 nhóm: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở công vụ và nhà ở chính sách. Khi đó, nhà ở thương mại vận hành chủ yếu theo quy luật thị trường; nhà ở cho thuê cần ưu đãi về đất đai, tín dụng, cơ chế vận hành; nhà ở công vụ phục vụ yêu cầu quản trị quốc gia và bố trí nhân lực đặc thù; nhà ở chính sách hướng đến người có công, người nghèo, lực lượng vũ trang và các nhóm yếu thế. Khi phân loại đúng nhu cầu, đúng đối tượng, Nhà nước mới có thể thiết kế đúng công cụ hỗ trợ, đúng cơ chế ưu đãi và đúng nguồn lực đầu tư.

Điều đáng chú ý là những điểm đột phá này không tồn tại riêng lẻ mà hợp thành một khung tư duy mới về phát triển nhà ở tại Việt Nam. Giờ đây, nhà ở từ chỗ được xem như một loại tài sản đầu cơ chuyển sang là một nền tảng phát triển con người; thị trường nhà ở chuyển từ tự phát sang có định hướng; nhiều người dân từ ám ảnh sở hữu đã chuyển sang quyền tiếp cận chỗ ở; từ phát triển bất động sản thuần túy sang phát triển không gian sống gắn với chất lượng cuộc sống và năng suất lao động. Đó cũng là tín hiệu vui cho các cấp Công đoàn khi có được những nền tảng vững chắc về thể chế, chính sách về nhà ở để thời gian tới có thể thực hiện tốt hơn trách nhiệm chăm lo “an cư, lạc nghiệp” cho người lao động.

NGUYỄN HƯNG

Chia sẻ bài viết