06/11/2026 - 05:50

Gắn nghiên cứu với thực tiễn điều trị 

Từ những nghiên cứu chuyên sâu về lao màng não, lao kháng thuốc đến ứng dụng nội soi phế quản trong chẩn đoán bệnh lý hô hấp, đội ngũ y, bác sĩ Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ từng bước đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn điều trị. 

Các bác sĩ báo cáo đề tài nghiên cứu tại hội thảo. 

Vừa qua, Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ tổ chức hội nghị khoa học chuyên ngành lao và bệnh phổi lần thứ 2, tập trung vào 2 lĩnh vực chính là bệnh lao và bệnh phổi, đồng thời cập nhật các chuyên đề về quản lý kinh tế y tế trong điều trị, phác đồ điều trị, sử dụng kháng sinh và những công nghệ mới.

Một trong những vấn đề được quan tâm trong điều trị lao hiện nay là tình trạng kháng thuốc. Bác sĩ Nguyễn Thanh Nhân, học viên bác sĩ nội trú Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, đã thực hiện nghiên cứu về tỷ lệ kháng Bedaquiline và kết cục điều trị bệnh nhân lao kháng thuốc.

Theo bác sĩ Nguyễn Thanh Nhân, Bedaquiline là thuốc tương đối mới, được đưa vào điều trị trong khoảng hơn 10 năm qua. Các nghiên cứu về tỷ lệ kháng thuốc này trên thế giới còn hạn chế, tại Việt Nam cũng chưa có nhiều báo cáo. Điểm đáng lưu ý là tình trạng kháng Bedaquiline có thể xuất hiện ngay cả khi người bệnh chưa từng sử dụng thuốc và đây là vấn đề đáng quan tâm bởi Bedaquiline hiện là một trong những thuốc chủ lực trong phác đồ điều trị lao kháng thuốc. Qua đó, nhóm nghiên cứu cũng mong muốn ngành y tế quan tâm hơn đến nguồn lực và kinh phí để các cơ sở điều trị có điều kiện triển khai xét nghiệm phát hiện tình trạng kháng Bedaquiline, góp phần lựa chọn phác đồ phù hợp cho người bệnh.

Bên cạnh lao kháng thuốc, lao màng não là thể bệnh đặc biệt nguy hiểm. Theo BS.CKI Nguyễn Hải Âu, Trưởng Khoa Hồi sức cấp cứu và Điều trị tích cực chống độc, Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ, lao màng não tuy chỉ chiếm khoảng 1-5% tổng số trường hợp mắc lao, nhưng có tỷ lệ tử vong rất cao, dao động từ 25-75%. Xuất phát từ thực tế này, nhóm nghiên cứu triển khai đề tài “Xây dựng và đánh giá mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân lao màng não trong giai đoạn điều trị tấn công”.

Nghiên cứu được thực hiện trên 150 bệnh nhân lao màng não. Kết quả ghi nhận có 31 trường hợp tử vong trong 2 tháng đầu. Qua phân tích, nhóm nghiên cứu nhận thấy một số yếu tố liên quan đến nguy cơ tử vong như tuổi cao, tình trạng thiếu máu và điểm Glasgow khi nhập viện. Đây là thang điểm đánh giá mức độ tri giác của người bệnh. Những bệnh nhân có điểm Glasgow thấp, biểu hiện tri giác suy giảm thường có nguy cơ tử vong cao hơn.

Từ các dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình giúp dự đoán nguy cơ tử vong dựa trên đặc điểm ban đầu của người bệnh. Kết quả này có ý nghĩa thiết thực trong phân tầng nguy cơ và tổ chức điều trị. Những bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao được ưu tiên chăm sóc, điều trị tích cực tại Khoa Hồi sức tích cực trong giai đoạn đầu. Khi tình trạng ổn định, người bệnh có thể chuyển về các khoa điều trị phù hợp hoặc tiếp tục điều trị tại địa phương. Đối với nhóm nguy cơ thấp hơn, bệnh viện có thể bố trí điều trị tại khoa chuyên môn phù hợp.

Theo bác sĩ Nguyễn Hải Âu, việc nhận diện sớm những trường hợp có nguy cơ diễn tiến nặng giúp bệnh viện sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có và người bệnh nặng được ưu tiên can thiệp tích cực ngay từ đầu, góp phần giảm nguy cơ tử vong.

Ở khía cạnh khác, bác sĩ Nguyễn Hùng Thanh Tùng, Trưởng Khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ, cùng nhóm nghiên cứu triển khai đề tài về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả nội soi phế quản ống mềm ở bệnh nhân có triệu chứng hô hấp nhập viện tại Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ năm 2026. Nội soi phế quản ống mềm là kỹ thuật cho phép bác sĩ quan sát trực tiếp đường thở, tiếp cận các vị trí tổn thương và lấy bệnh phẩm phục vụ xét nghiệm chuyên sâu. Thông qua các kỹ thuật như bơm rửa phế quản phế nang, sinh thiết, mẫu bệnh phẩm được sử dụng để thực hiện xét nghiệm mô bệnh học, GeneXpert và những xét nghiệm cần thiết khác, hỗ trợ xác định nguyên nhân gây bệnh. Nghiên cứu được thực hiện trên 106 bệnh nhân nhập viện điều trị và được chỉ định nội soi phế quản. Kết quả cho thấy, khoảng 50% trường hợp xác định được căn nguyên gây bệnh nhờ kỹ thuật này, trong khi trước đó các xét nghiệm thông thường và bệnh phẩm khạc đờm chưa tìm được tác nhân gây bệnh.

Theo bác sĩ Nguyễn Hùng Thanh Tùng, mặc dù nội soi phế quản không phải là kỹ thuật mới trên thế giới và tại Việt Nam, nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật này trong chẩn đoán bệnh lao tại các bệnh viện chuyên khoa lao ở địa phương vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, đối với những bệnh nhân khó khạc đờm, nội soi phế quản giúp thu thập bệnh phẩm thuận lợi hơn, tăng khả năng xác định căn nguyên, từ đó hỗ trợ người bệnh tiếp cận điều trị sớm.

Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ xem nghiên cứu khoa học là giải pháp quan trọng trong nâng cao chất lượng chuyên môn, cập nhật các tiến bộ y học và nâng cao hiệu quả điều trị. BS.CKII Hứa Trung Tiếp, Giám đốc Bệnh viện Phổi TP Cần Thơ, cho biết: “Xác định nghiên cứu khoa học phải gắn liền với ứng dụng trong điều trị, nên Đảng ủy, Ban Giám đốc Bệnh viện xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học hằng năm và dài hạn, khuyến khích tất cả khoa, phòng tham gia, phát huy tính chủ động của đội ngũ cán bộ, viên chức”.

Những năm đầu, một số nhân viên còn e ngại khi tiếp cận hoạt động nghiên cứu. Bệnh viện đã phối hợp với các trường đại học tổ chức tập huấn, đào tạo phương pháp nghiên cứu khoa học. Đến nay, trung bình mỗi năm bệnh viện thực hiện khoảng 12-15 đề tài nghiên cứu khoa học; phối hợp với các bệnh viện tuyến Trung ương và tổ chức quốc tế triển khai những nghiên cứu có quy mô lớn.

Bài, ảnh: H.HOA 

Chia sẻ bài viết