26/03/2026 - 14:07

Chuyển đổi sinh kế, thích ứng với biến đổi khí hậu từ cây trồng bản địa 

Theo nhận định của các chuyên gia, thời gian qua, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, đời sống, bảo tồn sinh thái ở ĐBSCL. Khôi phục sinh thái, phát huy hiệu quả cây trồng bản địa để thích ứng BĐKH, khô hạn, nhiễm mặn đang được nhiều địa phương triển khai thực hiện và mang lại hiệu quả cao.

Chuyển đổi sinh kế

ĐBSCL là vùng kinh tế sinh thái đặc biệt quan trọng, giữ vai trò trung tâm trong sản xuất lúa gạo, thủy sản và trái cây của Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức như BĐKH, xâm nhập mặn, sạt lở, suy thoái tài nguyên và áp lực chuyển đổi sinh kế đối với hàng triệu người dân, nhất là các nhóm dễ bị tổn thương. Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu và Bảo tồn ĐBSCL - MCF, cho biết: “Việc triển khai Nghị quyết số 120/NQ-CP và Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030 đang thúc đẩy tư duy phát triển “thuận thiên”, tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm phụ thuộc vào cây lúa, đa dạng hóa sinh kế theo ba tiểu vùng sinh thái mặn - lợ - ngọt ở ĐBSCL. Một hướng đi được đánh giá nhiều tiềm năng là phát triển các mô hình sinh kế dựa trên những loài cây bản địa như năn tượng, lác, tre và tràm. Các loài này không chỉ tạo thu nhập cho người dân mà còn góp phần phục hồi hệ sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp xanh như dệt, giấy, đồ gỗ, đồng thời tăng khả năng phòng hộ và thích ứng với BĐKH…”.

Sản phẩm đan đát từ cỏ năn tượng được trưng bày, giới thiệu đến khách hàng.

Xây dựng mô hình sinh kế bền vững để góp phần ứng phó BĐKH, giảm sự thay đổi của các vùng sinh thái ở ĐBSCL là cần thiết. Quỹ MCF được thành lập vào năm 2018, với mục tiêu bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái đặc thù của vùng ĐBSCL; thúc đẩy các mô hình sinh kế dựa trên tài nguyên bản địa, góp phần tạo nên sinh kế bền vững và sự thịnh vượng lâu dài cho cộng đồng. Hoạt động này đã và đang triển khai ở nhiều địa phương vùng ĐBSCL.

Nhiều năm nay, người dân vùng ven biển đã biết được giá trị cỏ năn tượng tạo thêm thu nhập trong quá trình sinh kế cho hộ dân. Trong vô số loài cây cỏ hoang dại ở vùng đất ngập nước, cỏ năn tượng là nguồn vật liệu từ thiên nhiên phù hợp với mô hình sản xuất mới ở vùng nông thôn. Hơn nữa, đây còn là cây thích ứng với BĐKH, gìn giữ môi trường sinh thái bền vững. Nhiều nhà khoa học và nông dân cho biết, ở những vùng cỏ năn tượng tự nhiên sinh sôi ngoài đồng như Cà Mau, An Giang, TP Cần Thơ… thì chúng có khả năng làm sạch nguồn nước, tạo môi sinh tốt cho tôm, cua, cá… tùy theo mô hình nuôi thủy sản của người dân, nhất là phù hợp với mô hình nuôi quảng canh hoặc để cải thiện môi sinh.

Nhiều năm qua, Quỹ MCF đã hỗ trợ người dân tại khu vực Mỹ Xuyên, vùng ven biển TP Cần Thơ, tỉnh Cà Mau… ứng dụng mô hình cải thiện sinh kế từ cây cỏ năn tượng. Ông Trần Văn Mật ở phường Mỹ Xuyên, TP Cần Thơ, cho biết: “Qua nhiều năm chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đất ruộng nhà trồng lúa và nuôi tôm nhưng nhiều lúc nước mặn lên trễ nên gặp khó khi thả tôm. Từ khi đưa cỏ năn tượng trồng trở lại thì rủi ro được hạn chế, hiệu quả tăng cao”.

Các nhà khoa học cho biết, cỏ năn tượng có thể chịu mặn 8‰ như cây bồn bồn, thậm chí độ mặn 15-20‰ cây vẫn không chết. Chỉ cần cấy dặm 3 tép cỏ xuống đất bùn mặt ruộng, khoảng cách 7-8 tấc, trong thời gian ngắn cây sẽ tự nở bụi. Theo nhiều người dân ở phường Mỹ Xuyên, năn tượng là loài cỏ dễ tìm, dễ trồng, thích nghi tốt trên vùng đất ngập nước dù mặn hay lợ. Một vụ năn tượng trồng 4 tháng cho thu hoạch. Trong suốt thời gian trồng không tốn phân bón, thuốc trừ sâu, chỉ cần canh nước không ngập ngọn cỏ là cây phát triển tốt. Cỏ năn tượng sau khi thu hoạch phơi khô được doanh nghiệp thu mua làm nguyên liệu đan đát (sản phẩm thủ công mỹ nghệ) xuất khẩu. Giá năn tượng tươi khoảng 700-1.000 đồng/kg, năn tượng khô 8.000-10.000 đồng/kg; bình quân cho thu nhập 6-8 triệu đồng/công, một năm nông dân thu hoạch 3 đợt có nguồn thu từ 18-24 triệu đồng/công, cao gấp nhiều lần trồng lúa. Trồng năn tượng còn có nguồn lợi lớn về môi trường như làm sạch nước, rong tảo, đất… từ đó, nông dân có thể thả nuôi tôm, cua hoặc cá.

Giải pháp phát triển bền vững

Trong bối cảnh BĐKH, các mô hình sinh kế gắn với cây bản địa như năn tượng, lác, tre và cây tràm được đánh giá có nhiều tiềm năng. Những loài cây này không chỉ tạo sinh kế, mà còn góp phần phục hồi môi trường, cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt, giấy, đồ gỗ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác hiệu quả do sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều. Hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng còn hạn chế khiến chi phí cao, giảm sức cạnh tranh. Ngoài ra, việc thiếu dữ liệu về phân vùng và trữ lượng cũng khiến doanh nghiệp dè dặt trong đầu tư dài hạn. Trong khi đó, các thị trường quốc tế ngày càng đặt ra yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ bền vững như FSC hay quy định chống mất rừng (EUDR), đòi hỏi vùng nguyên liệu phải được tổ chức bài bản ngay từ đầu.

Tại hội thảo “Chuỗi giá trị xanh - Đồng hành và phát triển”, bà Ramla Khalidi - Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận phát triển theo hướng “làm việc cùng thiên nhiên thay vì chống lại thiên nhiên”, thông qua các giải pháp khoa học và thực tiễn nhằm thúc đẩy chuyển đổi kinh tế tích cực với tự nhiên.

Theo Quỹ MCF, kiến tạo một ĐBSCL “thuận thiên”, nơi kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đã trở thành định hướng phát triển lâu dài. Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền khẳng định: Từ định hướng này, MCF cùng các đối tác hỗ trợ thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị xanh dựa trên ba trụ cột chính. Một là bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái thông qua các chương trình chuyển đổi dựa vào thiên nhiên, thúc đẩy việc trồng và phục hồi các loài cây bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện đất phèn và đất mặn, góp phần phục hồi hệ sinh thái, tăng cường khả năng chống chịu với BĐKH. Hai là phát triển chuỗi giá trị xanh. MCF không chỉ khuyến khích trồng cây mà còn thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị hoàn chỉnh kết nối sản xuất - chế biến - thị trường, hướng tới đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế như FSC hay EUDR. Ba là thúc đẩy hòa nhập xã hội, MCF đặt con người vào trung tâm của quá trình chuyển đổi. Việc phát triển các vùng nguyên liệu xanh sẽ tạo ra những cơ hội sinh kế ổn định cho cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi...

PGS.TS Ngô Thị Thanh Trúc (Đại học Cần Thơ) cho rằng, về dài hạn, phát triển chuỗi giá trị xanh không chỉ tạo thêm sinh kế mà còn góp phần tái cơ cấu kinh tế vùng theo hướng thích ứng sinh thái, gia tăng giá trị tại chỗ và giảm phụ thuộc vào các mô hình kém hiệu quả. Nếu được đầu tư bài bản, các chuỗi giá trị dựa trên cây bản địa có thể tạo thu nhập, phục hồi cảnh quan, tăng khả năng chống chịu với BĐKH và mở ra cơ hội tham gia các thị trường xanh. Đây cũng là hướng đi cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng gắn với chuyển đổi xanh và bảo tồn hệ sinh thái tại ĐBSCL.

Bài, ảnh: HÀ VĂN

Chia sẻ bài viết