Trước yêu cầu ngày càng cao về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và giảm phát thải, phát triển vùng nguyên liệu quy mô lớn, quản lý bằng dữ liệu số và gắn với thị trường tiêu thụ ổn định đang trở thành nền tảng nâng cao giá trị nông sản.
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương đang đẩy mạnh tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng từ khâu canh tác đến chế biến, xuất khẩu.
.webp)
Nhà vườn trồng sầu riêng ở phía Tây tỉnh Đồng Tháp tuân thủ nghiêm nhặt các quy định về mã số vùng trồng. Ảnh: Hữu Chí/TTXVN
Công ty TNHH Vĩnh Hiệp tiếp tục dẫn đầu các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân xanh trong niên vụ 2025-2026, với gần 180.000 tấn, kim ngạch hơn 836 triệu USD, chiếm xấp xỉ 10% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước. Trên nền tảng này, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng vai trò trong chuỗi giá trị thông qua phát triển vùng nguyên liệu, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đầu tư chế biến sâu.
Ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp cho biết, doanh nghiệp chú trọng minh bạch chuỗi cung ứng, từ vùng nguyên liệu, canh tác, thu mua đến chế biến, xuất khẩu, bảo đảm mỗi hạt cà phê có nguồn gốc rõ ràng và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Theo ông Hiệp, ứng dụng khoa học, công nghệ và đẩy mạnh chế biến sâu là hướng đi quan trọng để cà phê Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị và phát triển thương hiệu do người Việt làm chủ. Doanh nghiệp cũng ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ quản lý dữ liệu vùng trồng, hỗ trợ nông dân canh tác bền vững, đáp ứng yêu cầu giảm phát thải.
Trong ngành hàng trái cây, Vina T&T Group liên kết với các hợp tác xã, tổ hợp tác và nông dân tại Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, Đồng Nai... để xây dựng vùng nguyên liệu. Ông Nguyễn Đình Mười, Phó Tổng Giám đốc Vina T&T Group cho biết, sau khi vùng trồng được cấp mã số, nông dân tiếp tục được tập huấn quy trình sản xuất, kiểm soát dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại theo yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Doanh nghiệp hiện có 5 cơ sở đóng gói được cấp mã số phục vụ các vùng nguyên liệu liên kết.
Tại Vĩnh Long, Công ty TNHH MTV The Fruit Republic Cần Thơ đã ký biên bản ghi nhớ với ngành nông nghiệp và Liên minh Hợp tác xã tỉnh về phát triển 500 ha chanh không hạt phục vụ xuất khẩu giai đoạn 2026-2030. Vùng trồng được tổ chức đồng bộ từ giống, quy trình canh tác, mã số vùng trồng đến thu mua, xuất khẩu, hướng tới ổn định đầu ra và nâng cao thu nhập cho nông dân.
Thực tế cho thấy, phát triển vùng nguyên liệu không chỉ dừng ở mở rộng diện tích hay cấp mã số mà còn đòi hỏi tổ chức sản xuất đồng bộ và duy trì liên kết lâu dài. Ông Lê Tấn Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Dịch vụ Nông nghiệp Thăng Tiến (Đắk Lắk) cho biết, hợp tác xã đang tổ chức sản xuất trên khoảng 452 ha; trong đó 150 ha đã được cấp mã số vùng trồng; tiềm năng liên kết có thể mở rộng lên hơn 4.000 ha.
Hợp tác xã ứng dụng công nghệ số để quản lý diện tích, quy trình sản xuất, thông tin đất, nước và nhật ký canh tác; đồng thời hướng tới hoàn thiện điều kiện sơ chế, đóng gói, cấp đông và kết nối đối tác xuất khẩu. Theo ông Dũng, các hộ phải tuân thủ quy trình, ghi chép nhật ký và phối hợp kiểm soát chất lượng để duy trì mã số vùng trồng, bảo đảm nguồn cung đạt chuẩn và tạo niềm tin với doanh nghiệp.
Những mô hình trên cho thấy liên kết vùng giữ vai trò quan trọng trong mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc kết nối các khu vực có lợi thế về điều kiện sinh thái, sản phẩm và thị trường giúp hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn, tạo thuận lợi cho đầu tư hạ tầng, kiểm soát chất lượng và tổ chức tiêu thụ. Trong chuỗi liên kết, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, hợp tác xã tổ chức sản xuất, còn nông dân trực tiếp thực hiện quy trình canh tác.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước đã hình thành 13 vùng nguyên liệu nông, lâm sản tập trung tại 26 tỉnh, với quy mô khoảng 166.800 ha, thu hút hơn 200 hợp tác xã, gần 100 doanh nghiệp và khoảng 200.000 hộ nông dân tham gia chuỗi giá trị. Mô hình này góp phần giảm 15-20% chi phí nguyên liệu, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản.
Đến năm 2030, quy mô vùng nguyên liệu dự kiến mở rộng lên hơn 1,8 triệu ha với các ngành hàng ưu tiên gồm lúa gạo, cà phê, trái cây nhiệt đới, gỗ rừng trồng, thủy sản và muối, với mục tiêu 100% diện tích vùng nguyên liệu có hợp đồng liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp.
Tại Lâm Đồng, tỉnh đặt mục tiêu xây dựng hơn 4.700 ha vùng nguyên liệu tập trung trong giai đoạn 2026-2030, phấn đấu đưa 60-70% sản lượng nông sản tại các vùng này vào tiêu thụ theo hợp đồng liên kết. Tỉnh cũng định hướng ứng dụng dữ liệu số trong quản lý và truy xuất nguồn gốc, với mục tiêu hỗ trợ xây dựng bản đồ số GIS cho 100% diện tích và áp dụng nhật ký sản xuất điện tử tại ít nhất 70% diện tích, góp phần đáp ứng yêu cầu thị trường, nhất là quy định của Liên minh châu Âu về chống mất rừng và suy thoái rừng (EUDR).
Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3411/QĐ-BNNMT phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án “Phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026-2030”. Kế hoạch định hướng chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đầu tư có trọng điểm, gắn với chuỗi giá trị và kết quả đầu ra. Theo đó, ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, dữ liệu số, nâng cao năng lực hợp tác xã và thúc đẩy liên kết; doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân đầu tư vào sản xuất, chế biến, logistics theo cơ chế thị trường.
Theo kế hoạch, khoảng 250-300 vùng nguyên liệu tiềm năng sẽ được rà soát, lựa chọn theo nhóm ngành hàng và vùng sinh thái. Hạ tầng giao thông kết nối vùng trồng với khu thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ được ưu tiên đầu tư, cùng hệ thống thủy lợi và logistics phù hợp.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, hệ thống cơ sở dữ liệu và nền tảng chia sẻ dữ liệu của Bộ có thể hỗ trợ liên kết vùng, quản lý tài nguyên, điều hòa nguồn nước, phát triển sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc kết nối dữ liệu giữa các địa phương sẽ tạo nền tảng để điều phối phát triển vùng hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, Bộ định hướng hỗ trợ doanh nghiệp đầu chuỗi liên kết với hợp tác xã, nông dân, phát triển thương hiệu nông sản theo vùng và mở rộng thị trường trong nước, xuất khẩu. Qua đó, vùng nguyên liệu không chỉ bảo đảm nguồn cung ổn định mà còn trở thành nền tảng nâng cao giá trị, tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam và cải thiện thu nhập cho người sản xuất.
Bích Hồng/TTXVN