* Thảo luận tổ về dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi)
(TTXVN)- Sáng 10-6, tiếp tục chương trình làm việc, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi).
Qua thảo luận, nhiều ý kiến đánh giá cao việc lấy ý kiến nhân dân về dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đã được tiến hành khẩn trương, nghiêm túc theo đúng yêu cầu về nội dung và tiến độ nêu trong Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Kế hoạch của Chính phủ. Các ý kiến cho rằng Bộ luật Dân sự giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, vì vậy việc sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ bất cứ một quy định nào cũng cần phải được cân nhắc thận trọng, nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng, đánh giá tác động xã hội đầy đủ, toàn diện; đồng thời cần giải trình rõ và thuyết phục hơn nữa lý do của việc sửa đổi, bổ sung đối với từng điều, khoản đó.
Qua thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm tới quy định tại khoản 2 Điều 14 dự thảo Bộ luật về "Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng".
Đại biểu Nguyễn Thị Ngọc Thanh (Hà Nội) cho rằng quy định này bảo vệ quyền con người, quyền công dân về trách nhiệm của Tòa án trong việc "bảo vệ công lý"; phù hợp với Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng. Đại biểu phân tích trong các quan hệ dân sự, chỉ khi 2 bên không thể thống nhất được, không thể thương lượng được với nhau thì giải pháp cuối cùng mới đề nghị Tòa án giải quyết. Trong trường hợp Tòa án từ chối giải quyết, họ có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình bằng cái mà người ta vẫn gọi là "luật rừng".
Thảo luận về khoản 2 Điều 36 quy định về việc chuyển đổi giới tính theo hướng: "Nhà nước không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính. Trường hợp cá nhân đã chuyển đổi giới tính thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi hộ tịch và có các quyền nhân thân khác theo quy định tại khoản 1 Điều này", nhiều ý kiến tán thành với quan điểm nội dung này cần được cơ quan thẩm tra dự án bộ luật là Ủy ban Pháp luật nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng.
Thảo luận về đoạn thứ 2 khoản 3 Điều 26: "Tên của công dân Việt Nam và người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ. Họ, tên của một người không được vượt quá hai mươi lăm chữ cái", nhiều ý kiến không tán thành với quy định này trong dự thảo, cho rằng quy định hạn chế về cách đặt tên, độ dài của tên là không cần thiết. Các ý kiến đề nghị Ban soạn thảo làm rõ những nội dung này để bảo đảm thể chế hóa quy định của Hiến pháp về tôn trọng quyền con người, quyền công dân.
Tại phiên làm việc, các đại biểu đã cho ý kiến cụ thể về quyền nhân thân; hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân; thời điểm xác lập quyền sở hữu và các vật quyền khác theo hợp đồng; lãi suất trong hợp đồng vay tài sản; thời hiệu và thời hiệu thừa kế...
Chiều cùng ngày, các đại biểu Quốc hội làm việc tại hội trường, biểu quyết thông qua Nghị quyết về Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2013; nghe Tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật Khí tượng thủy văn; thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán.
Với 384 đại biểu tán thành (tỷ lệ 77,58%), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2013.
Nghị quyết phê chuẩn tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2013 là 1.084.064 tỉ đồng. Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.277.710 tỉ đồng. Bội chi ngân sách nhà nước là 236.769 tỉ đồng, bằng 6,6% tổng sản phẩm trong nước (GDP), không bao gồm số kết dư ngân sách địa phương. Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước: vay trong nước 180.347 tỉ đồng, vay ngoài nước 56.422 tỉ đồng. Nghị quyết giao Chính phủ chỉ đạo các cơ quan Trung ương, địa phương và đơn vị kịp thời khắc phục những hạn chế được nêu, kiểm điểm trách nhiệm, xử lý nghiêm, kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm trong việc quản lý, điều hành ngân sách nhà nước và báo cáo kết quả với Quốc hội khi trình Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2014. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính - Ngân sách, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Theo Tờ trình của Chính phủ, dự án Luật Khí tượng thủy văn gồm 11 chương, quy định về hoạt động khí tượng thủy văn gồm: quan trắc; dự báo, cảnh báo; thông tin, dữ liệu; phục vụ, dịch vụ khí tượng thủy văn; giám sát biến đổi khí hậu; tác động vào thời tiết và quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khí tượng thủy văn.
Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học và Môi trường của Quốc hội cơ bản thống nhất với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật Khí tượng thủy văn nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật để đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về khí tượng thủy văn và hoạt động thực tiễn như: quản lý, khai thác mạng lưới trạm khí tượng thủy văn; dự báo, cảnh báo; thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn; hoạt động phục vụ, dịch vụ khí tượng thủy văn; giám sát biến đổi khí hậu...
Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, đa số các đại biểu tán thành với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Kế toán nhằm khắc phục những hạn chế bất cập liên quan đến công tác kế toán, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề kế toán, đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) cho rằng không nên quy định đối tượng hành nghề kế toán phải có bằng Đại học trở lên, bởi, hiện nay tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc những đơn vị công lập quy mô nhỏ, đội ngũ kế toán đa phần chỉ cần có trình độ Trung cấp trở lên đã có thể đáp ứng được công việc. Với quy định trong luật này, nếu không quy định lộ trình phù hợp sẽ dẫn tới việc rất nhiều người đang hành nghề kế toán phải đối diện với nguy cơ thất nghiệp khi chưa có thời gian chuyển đổi bằng cấp, trong khi xã hội đang khuyến khích giảm lao động thất nghiệp. Một điều quan trọng khác, là cần phải đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. Nên giao việc cấp chứng chỉ hành nghề kế toán cho Sở Tài chính các địa phương nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, tránh rườm rà trong công tác này.