Trong những năm qua, lĩnh vực khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) đóng góp ngày càng rõ nét vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh mới, KHCN, ĐMST không chỉ là lĩnh vực hỗ trợ phát triển, mà đang trở thành nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững; là điều kiện để bảo đảm tự chủ, tự cường trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt.

Công ty CP Cấp thoát nước Cần Thơ ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, quản trị và chăm sóc khách hàng.
Kết quả nổi bật
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, hệ thống cơ chế, chính sách về KHCN, ĐMST và CĐS của nước ta tiếp tục được hoàn thiện mạnh mẽ với 10 luật và 1 nghị quyết được ban hành; cùng 35 nghị định, 60 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 78 thông tư nhằm tháo gỡ rào cản về nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ mới.
Hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển cả về quy mô và chất lượng. Năm 2025, số lượng công bố khoa học quốc tế của Việt Nam đạt hơn 25.000 bài, tăng 13,48% so với năm 2024. Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế; Việt Nam đứng thứ 55 toàn cầu về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Hạ tầng 5G được mở rộng nhanh chóng; các trung tâm dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây và hạ tầng số dùng chung tiếp tục được đầu tư mạnh. CĐS quốc gia tiếp tục chuyển biến rõ nét với tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình tăng mạnh; nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia được đưa vào vận hành hiệu quả; tỷ lệ người dân sử dụng định danh điện tử, chữ ký số và thanh toán số ngày càng tăng.
Kinh tế số hiện chiếm khoảng 14,02% GDP. Trong lĩnh vực AI, Việt Nam xếp thứ 45 thế giới, tăng 10 bậc so với năm 2022. Công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu khoảng 198 tỉ USD; xuất khẩu phần cứng, điện tử đạt khoảng 178 tỉ USD. Những kết quả đó cho thấy KHCN, ĐMST và CĐS đang ngày càng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cải thiện chất lượng sống của người dân.
Tập trung các công nghệ chiến lược
Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS thời gian qua vẫn còn những hạn chế như huy động nguồn lực cho KHCN chưa được chú trọng đúng mức; công tác đào tạo, trọng dụng cán bộ KHCN tuy có nhiều đổi mới, tiến bộ nhưng còn những bất cập; cơ chế để phát triển hoạt động KHCN chậm được hoàn thiện…
Từ thực tế trên, ông Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết: Theo định hướng tái cấu trúc hệ thống chương trình khoa học và công nghệ quốc gia, 42 chương trình khoa học và công nghệ sẽ được tổ chức lại theo hướng tinh gọn và phân tầng chức năng thành 6 chương trình lớn. Bộ Khoa học và Công nghệ đang tập trung hoàn thiện cơ chế triển khai; xây dựng các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm; tháo gỡ các vướng mắc về tài chính, tiêu chuẩn, thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp và thương mại hóa nhằm đẩy nhanh quá trình đưa công nghệ và sản phẩm nghiên cứu vào thực tiễn. Đồng thời, ngành Khoa học và Công nghệ tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đổi mới cơ chế tài chính và tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp ĐMST, doanh nghiệp công nghệ và startup công nghệ Việt Nam phát triển.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 21/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia, Việt Nam ưu tiên phát triển các công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và sản phẩm chiến lược có khả năng tạo đột phá về tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ quốc gia trong giai đoạn mới. Cụ thể như AI, dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây, Internet vạn vật, công nghệ bán dẫn, nền tảng Make in Vietnam... Đây đều là những công nghệ có khả năng tác động sâu rộng tới nhiều ngành, lĩnh vực; đồng thời quyết định năng lực cạnh tranh, vị thế và mức độ tự chủ công nghệ của quốc gia trong dài hạn.
Cách tiếp cận mới trong triển khai công nghệ chiến lược là chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu phân tán sang cách tiếp cận theo “bài toán lớn quốc gia”. Theo đó, các nhiệm vụ công nghệ chiến lược được xác định rõ mục tiêu đầu ra, chỉ tiêu kỹ thuật, sản phẩm cụ thể, địa chỉ ứng dụng và doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu; đồng thời gắn nghiên cứu với khả năng thương mại hóa và triển khai thực tiễn.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, KHCN, ĐMST và CĐS được xác định là động lực chủ chốt, là chìa khóa vàng, là yếu tố sống còn để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Để đạt được mục tiêu đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò hạt nhân cùng các Bộ, cơ quan và địa phương, doanh nghiệp, viện, trường trong thực hiện phát triển KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia. Đồng thời, xây dựng hệ sinh thái ĐMST hiệu quả, trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế; viện nghiên cứu, trường đại học tạo tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng, thương mại hóa công nghệ, là trung tâm của hệ sinh thái ĐMST quốc gia...
Bài, ảnh: MỸ THANH