08/04/2026 - 07:30

Tạo đột phá để giải quyết “điểm nghẽn” cho ĐBSCL 

Tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo quốc phòng, an ninh (QP, AN) 6 vùng KT-XH trong cả nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhiều vấn đề về vùng ĐBSCL đã được đề cập, phân tích.

Kết quả thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 2-4-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển KT-XH, bảo đảm QP, AN vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 13-NQ/TW) cho thấy, KT-XH của vùng có bước phát triển rõ nét, QP, AN được tăng cường. Tuy nhiên, để ĐBSCL thật sự phát huy trọn vẹn tiềm năng, phát triển mạnh mẽ hơn nữa, cần có những đột phá để giải quyết các “điểm nghẽn” vốn đã được nhìn nhận từ nhiều năm qua.


TP Cần Thơ đang phấn đấu trở thành trung tâm của ĐBSCL trên một số lĩnh vực có thế mạnh. Ảnh: Anh Khoa

Chuyển biến tích cực từ những giải pháp đồng bộ

Trên cơ sở Nghị quyết số 13-NQ/TW, Quốc hội đã kịp thời thể chế hóa các định hướng lớn của Nghị quyết thông qua việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ban hành các nghị quyết có liên quan đến phân bổ không gian phát triển, cơ cấu vùng động lực và định hướng đầu tư hạ tầng chiến lược. Nhiều nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 13-NQ/TW đã được cụ thể hóa thành chỉ tiêu phát triển vùng, định hướng tổ chức không gian kinh tế, xác lập vai trò các cực tăng trưởng, vùng động lực, hành lang kinh tế, và ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng kết nối vùng…

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 78/NQ-CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW với 14 chỉ tiêu phát triển KT-XH, 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, 26 đề án, nhiệm vụ và 7 dự án kết cấu hạ tầng quan trọng của vùng cần nghiên cứu, thực hiện đến năm 2030. Đồng thời, ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch các ngành, lĩnh vực và quy hoạch các địa phương trong vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hội đồng Điều phối vùng ĐBSCL đã được Chính phủ thành lập là bước thể chế hóa quan trọng nhằm khắc phục tình trạng phát triển cục bộ, thiếu liên kết, đồng thời tạo đầu mối phối hợp giữa Trung ương và các địa phương trong triển khai các nhiệm vụ liên vùng.

Cấp ủy đảng các tỉnh, thành phố trong vùng đã lãnh đạo, xây dựng chương trình, kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW; cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết vào các nghị quyết đại hội đảng bộ nhiệm kỳ 2025-2030, các nghị quyết chuyên đề, các chương trình, đề án quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư trong giai đoạn 5 năm và hằng năm…

Theo ông Nguyễn Sỹ Hiệp, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, qua 3 năm thực hiện các nghị quyết, KT-XH 6 vùng (trong đó có vùng ĐBSCL - PV) đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Các địa phương đã tập trung cơ cấu lại nền kinh tế theo định hướng phù hợp, các hoạt động tái cơ cấu kinh tế thực chất hơn. Các mô hình kinh doanh mới, kinh tế chia sẻ, kinh tế số xuất hiện và phát triển, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành có hàm lượng công nghệ cao. Môi trường đầu tư - kinh doanh các vùng KT-XH chuyển biến tích cực và rõ nét.

Thực tế tại khu vực ĐBSCL, theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, sau hơn 3 năm triển khai Nghị quyết số 13-NQ/TW, kinh tế vùng duy trì tăng trưởng ổn định, thu nhập bình quân đầu người tăng 1,6 lần so với năm 2020. Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là “trụ đỡ” vững chắc, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia với sản lượng lúa năm 2024 đạt 24,3 triệu tấn, chiếm hơn 55% sản lượng cả nước. Đặc biệt, hạ tầng giao thông chiến lược đã có bước đột phá mạnh mẽ. Các tuyến cao tốc trục dọc và trục ngang đang được đẩy nhanh tiến độ, giúp kết nối nội vùng và với TP Hồ Chí Minh thuận lợi hơn bao giờ hết… “TP Cần Thơ tự hào khi duy trì được đà tăng trưởng dẫn đầu vùng (ước đạt 7,23% năm 2025)”, ông Nguyễn Tuấn Anh nói.

Cùng với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội của vùng ĐBSCL được quan tâm đầu tư nâng chất và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong đó, hệ thống y tế trong vùng được củng cố theo hướng đa tầng, từng bước hiện đại hóa và bảo đảm bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân. Quy mô và mạng lưới trường lớp được duy trì hợp lý, tỷ lệ phổ cập bền vững, giáo dục nghề nghiệp và đại học mở rộng… Tiềm lực QP, AN được tăng cường. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh tiếp tục được đẩy mạnh và đạt hiệu quả tích cực.

 “Tiếp sức” để ĐBSCL tháo gỡ “điểm nghẽn”

Theo đánh giá của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương về kết quả thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW, tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực ĐBSCL đạt khá, song chất lượng tăng trưởng còn thấp với quy mô giá trị công nghiệp của vùng chỉ chiếm 8,5-9% cả nước. Sự phát triển vẫn phụ thuộc lớn vào một số ngành chế biến nông - thủy sản và năng lượng truyền thống, trong khi các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp công nghệ cao còn chậm hình thành; cơ cấu nội ngành công nghiệp chuyển dịch chậm theo hướng sâu và tự chủ.

ĐBSCL vẫn chưa hình thành được cụm liên kết ngành, vùng dựa trên đặc thù nguyên liệu và logistics, như cụm chế biến thủy sản Cà Mau - Kiên Giang - Sóc Trăng hay cụm lúa - gạo - thực phẩm tại Đồng Tháp - An Giang - Cần Thơ. Vai trò điều phối vùng và cơ chế khuyến khích hợp tác doanh nghiệp - viện nghiên cứu - cơ sở đào tạo còn yếu, dẫn tới công nghiệp vùng thiếu sự lan tỏa, năng suất thấp và khó mở rộng quy mô chuỗi giá trị.

Cùng với đó, hạ tầng phục vụ phát triển KT-XH còn hạn chế, thiếu tính đồng bộ, liên kết vùng, nhất là hạ tầng không gian công nghiệp và logistics. Mặc dù các hành lang công nghiệp ven sông Hậu và ven biển Tây đã được hình thành, song hệ thống hạ tầng giao thông - logistics - cấp điện - thoát nước phục vụ công nghiệp còn thiếu đồng bộ. Tỷ lệ các khu công nghiệp được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung mới đạt khoảng 65%, thấp hơn mức trung bình cả nước (82%). Một số khu công nghiệp quy mô nhỏ (dưới 100ha) chưa thu hút được dự án có tính lan tỏa cao. Sự phân bố công nghiệp giữa khu vực trung tâm và vùng ven biển còn mất cân đối, trong khi các địa phương tiềm năng chưa phát huy được lợi thế vị trí địa lý và nguồn lao động.

Chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ và năng lực quản trị sản xuất cũng là vấn đề của vùng khi tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp và thiếu hụt lao động kỹ thuật cao, liên kết đào tạo - doanh nghiệp và hoạt động đổi mới sáng tạo còn yếu. Điều này khiến các ngành kinh tế chủ lực vẫn chủ yếu ở phân khúc giá trị gia tăng thấp, cản trở phát triển các lĩnh vực năng suất cao, đồng thời làm gia tăng chênh lệch năng suất lao động, thúc đẩy di cư lao động tới vùng khác có tốc độ tăng thu nhập cao hơn và trở thành rào cản lớn đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng bền vững...

Để tháo gỡ những “điểm nghẽn” trên, tại hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển KT-XH và đảm bảo QP, AN 6 vùng KT-XH trong cả nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ông Hồ Văn Mừng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, đề xuất Trung ương sớm ban hành cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế biển; có chính sách vượt trội đối với kinh tế cửa khẩu nhằm thu hút đầu tư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm QP, AN và giảm nghèo khu vực biên giới. Đồng thời, ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông lưỡng dụng, phục vụ đồng thời mục tiêu phát triển kinh tế và nhiệm vụ quốc phòng. Việc điều chỉnh hợp lý diện tích đất lúa ở ĐBSCL cũng cần được xem xét, tạo dư địa chuyển sang công nghiệp, thương mại, dịch vụ, bởi nếu duy trì tỷ trọng nông nghiệp quá cao sẽ khó đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%... 

Cùng với kiến nghị nghiên cứu, rà soát, sửa đổi bổ sung các chính sách đặc thù phát triển ĐBSCL để thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu Nghị quyết 13-NQ/TW đã đề ra, ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ, đề nghị Trung ương tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm địa phương trong quản lý đầu tư, quy hoạch và đất đai. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý để triển khai các mô hình đột phá, như: Khu thương mại tự do và trung tâm liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản vùng. Về hạ tầng giao thông và kinh tế, cần ưu tiên nguồn lực để hoàn thiện các trục cao tốc kết nối vùng và đặc biệt là chuẩn bị các điều kiện để khởi công sớm tuyến đường sắt tốc độ cao TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau. Đây là “cú hích” chiến lược để xóa bỏ rào cản về chi phí vận tải và mở rộng không gian kinh tế cho toàn vùng.

Ông Nguyễn Tuấn Anh cũng đề nghị Trung ương tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn vai trò của TP Cần Thơ là trung tâm dịch vụ, y tế chuyên sâu, đào tạo nguồn nhân lực và logistics lớn nhất vùng. Cần làm rõ mối liên kết giữa đô thị hạt nhân Cần Thơ với các tiểu vùng thông qua các hành lang kinh tế trọng điểm, như trục Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng và trục Cần Thơ - TP Hồ Chí Minh. Đồng thời, đổi mới cơ chế điều phối vùng: chuyển từ tư duy “phối hợp” sang tư duy “điều hành thực chất” thông qua Hội đồng Điều phối vùng. Trong đó, cần xác định rõ thẩm quyền của cơ quan điều phối trong việc quyết định các dự án liên vùng và xây dựng hệ thống dữ liệu vùng thống nhất trên nền tảng số để dùng chung cho tất cả các địa phương…

Có thể nói, sau 3 năm triển khai thực hiện, các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết số 13-NQ/TW đề ra đang dần được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể, rõ nét ở các địa phương của ĐBSCL. Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện, các bài học kinh nghiệm, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương sẽ trình Bộ Chính trị xem xét, thông qua báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW và xem xét, ban hành Kết luận về phát triển KT-XH và bảo đảm QP, AN vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây sẽ là cơ sở để ĐBSCL tháo gỡ “điểm nghẽn”, phát huy trọn vẹn tiềm năng, giữ vững vai trò chiến lược và đóng góp xứng đáng vào sự phát triển bền vững của đất nước. 

THỤY KHUÊ

Chia sẻ bài viết