Chính sách mới của Ngân hàng Nhà nước nâng trần lên 40% giúp ngân hàng linh hoạt hơn trong sử dụng vốn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của nền kinh tế.

Ngân hàng Nhà nước tăng trần vốn ngắn hạn cho vay dài hạn. (Ảnh: Vietnam+)
Việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn tại Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, đồng thời điều chỉnh cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi được kỳ vọng giúp các tổ chức tín dụng linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn vốn, mở rộng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt đối với các lĩnh vực có nhu cầu vốn trung và dài hạn lớn như hạ tầng, năng lượng và sản xuất.
Mở rộng dư địa tín dụng cho nền kinh tế
Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Điểm đáng chú ý nhất là Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.
Trước đó, nhằm hạn chế rủi ro chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay, cơ quan quản lý đã từng bước giảm tỷ lệ này từ 40% xuống 37%, 34% và còn 30% kể từ tháng 10/2023. Với quy định mới, tỷ lệ được đưa trở lại mức áp dụng trong giai đoạn 2020-2021.
Việc nâng trần được kỳ vọng giúp các ngân hàng linh hoạt hơn trong sử dụng nguồn vốn, tăng khả năng cung ứng tín dụng trung và dài hạn cho doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh và các dự án đầu tư, đồng thời giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Theo quy định mới, tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng và tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tiếp tục không được tính vào tổng tiền gửi. Tuy nhiên, đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, chỉ 80% số dư sẽ bị loại trừ khỏi công thức tính LDR hoặc áp dụng theo tỷ lệ khác do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ.
Việc đồng thời điều chỉnh tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn và cách tính LDR được đánh giá là động thái nhằm mở rộng dư địa hoạt động cho các tổ chức tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng trong khi vẫn duy trì các yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống.
Theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2, việc điều chỉnh cách xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi sẽ tạo tác động tích cực đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, đồng thời hỗ trợ ngành Ngân hàng thực hiện hiệu quả các mục tiêu trong năm 2026. Quy định mới giúp các tổ chức tín dụng khai thác và sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn, bảo đảm cân đối hợp lý giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, giữa cho vay ngắn hạn với cho vay trung, dài hạn, phù hợp với cơ cấu kỳ hạn và lãi suất. Qua đó, các ngân hàng có thêm điều kiện để mở rộng tín dụng theo định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.
Bên cạnh đó, việc gia tăng khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn sẽ giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của doanh nghiệp cho các hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh.

Ngành hạ tầng được đánh giá là nhóm hưởng lợi đáng kể từ việc mở rộng dư địa tín dụng trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng. (Ảnh: Vietnam+)
Ở góc độ chính sách, Tiến sỹ Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng việc Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế trong giai đoạn tới. Trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn đang được triển khai, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng gia tăng, đòi hỏi hệ thống ngân hàng có thêm dư địa để đáp ứng.
Chuyên gia này cũng nhấn mạnh, về dài hạn, định hướng vẫn là giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng và thúc đẩy các kênh dẫn vốn trung, dài hạn phát triển mạnh hơn. Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và các lĩnh vực trọng điểm đang tăng nhanh, việc nâng tỷ lệ này trở lại 40% là giải pháp linh hoạt, góp phần đáp ứng yêu cầu vốn của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Trong khi đó, tiến sỹ Phạm Tiến Đạt, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính cũng đánh giá, các ngành hạ tầng, năng lượng và sản xuất được đánh giá là nhóm hưởng lợi đáng kể từ việc mở rộng dư địa tín dụng trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng. Đây đều là những lĩnh vực có nhu cầu đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài và phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay dài hạn. Do đó, nhóm ngành này sẽ là tâm điểm theo dõi khi chính sách tín dụng được nới lỏng theo hướng hỗ trợ tăng trưởng.
Mở rộng tín dụng đi kèm yêu cầu quản trị rủi ro
Dù việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn lên 40% được kỳ vọng sẽ hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của nền kinh tế, các chuyên gia cho rằng chính sách này cũng đặt ra một số yêu cầu về quản trị rủi ro đối với hệ thống ngân hàng.
Cụ thể hơn, việc gia tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn có thể làm mức độ chênh lệch giữa kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay lớn hơn, đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải chủ động cân đối nguồn vốn và duy trì các chỉ tiêu thanh khoản ở mức phù hợp.
Bên cạnh đó, trong trường hợp mặt bằng lãi suất có biến động trong tương lai, chi phí huy động vốn có thể thay đổi nhanh hơn so với lãi suất của các khoản cho vay dài hạn đã giải ngân, tạo áp lực nhất định lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Các chuyên gia việc dòng vốn tín dụng được mở rộng vào các lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán cũng đòi hỏi công tác thẩm định và giám sát chất lượng tín dụng được thực hiện chặt chẽ hơn. (Ảnh: TTXVN)
Ngoài ra, việc dòng vốn tín dụng được mở rộng vào các lĩnh vực như bất động sản, chứng khoán cũng đòi hỏi công tác thẩm định và giám sát chất lượng tín dụng được thực hiện chặt chẽ hơn. Do đó, cùng với việc nới rộng dư địa tín dụng, yếu tố quan trọng là bảo đảm tăng trưởng đi kèm với an toàn hệ thống và chất lượng tài sản của các tổ chức tín dụng.
Đối các ngân hàng thương mại, các chuyên gia cũng lưu ý, việc được nới rộng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn mở ra cơ hội gia tăng tín dụng và cải thiện khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên, cùng với dư địa lớn hơn, các ngân hàng cần tiếp tục chú trọng quản trị cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và danh mục cho vay, tránh phụ thuộc quá mức vào nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay có thời gian thu hồi dài.
Quan trọng hơn, việc mở rộng tín dụng cần đi kèm với nâng cao chất lượng thẩm định, ưu tiên các dự án có hiệu quả, dòng tiền rõ ràng và khả năng trả nợ bền vững. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng, năng lượng và sản xuất gia tăng, các ngân hàng cũng cần tăng cường phân tán rủi ro, kiểm soát mức độ tập trung tín dụng theo ngành và khách hàng, đồng thời duy trì các chỉ tiêu an toàn thanh khoản ở mức phù hợp. Điều này sẽ giúp tận dụng hiệu quả dư địa chính sách mới, đồng thời bảo đảm tăng trưởng tín dụng gắn với an toàn và ổn định hoạt động trong trung và dài hạn.
Với chính sách này, Tiến sỹ Châu Đình Linh, giảng viên Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng điều quan trọng không chỉ nằm ở con số 40%, mà ở cách thức tổ chức thực hiện. Việc áp dụng cần gắn với sức khỏe tài chính, chất lượng tài sản và năng lực quản trị của từng tổ chức tín dụng, thay vì coi đây là một dư địa có thể sử dụng đồng loạt và tối đa.
Ông lưu ý thêm, những ngân hàng có hệ số an toàn vốn cao, tỷ lệ nợ xấu thấp, cơ cấu tiền gửi ổn định, khả năng quản trị thanh khoản tốt và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để mở rộng cho vay trung, dài hạn.
Theo Vietnam+