05/08/2026 - 13:10

Đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng 

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP ngày 31-7-2026 quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (gọi tắt là Nghị quyết 36). Đây không đơn thuần là giải pháp điều chỉnh tạm thời Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24-1-2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (gọi tắt là Nghị định 38), Nghị quyết 36 thể hiện tư duy quản lý hiện đại: lấy sự thuận lợi của người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã làm trung tâm.

Nông dân, hợp tác xã thụ hưởng lợi ích từ việc đơn giản hóa thủ tục mã số vùng trồng.

So với cơ chế cũ tại Nghị định 38 buộc tổ chức, cá nhân qua nhiều khâu trung gian và chờ đợi quy trình tiền kiểm phức tạp, chính sách mới có nhiều cải tiến nổi trội. Điểm cải cách cốt lõi nằm ở phân cấp thẩm quyền và tinh thần chuyển đổi số triệt để. Theo đó, toàn bộ quy trình cấp, quản lý mã số nay đưa lên môi trường mạng toàn trình qua Cổng dịch vụ công quốc gia, vận hành theo nguyên tắc người dân tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thay vì cơ chế "tiền kiểm cho tất cả" gây ùn ứ hồ sơ như trước, chính sách mới chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế hậu kiểm. Cơ quan chuyên môn chỉ tiền kiểm khi thị trường nhập khẩu có yêu cầu bắt buộc. Sự thay đổi này rút ngắn tối đa thời gian chờ đợi, loại bỏ chi phí đi lại không cần thiết và giải phóng gánh nặng hành chính cho chủ thể sản xuất, tạo động lực liên kết hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn.

Ở góc độ pháp lý, Nghị quyết 36 trả lại đúng bản chất cho mã số vùng trồng. Văn bản khẳng định rõ mã số vùng trồng chỉ gắn liền với vị trí thửa đất và loại cây trồng xác định, tuyệt đối không xác lập hay thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân. Quy định rõ ràng này giải quyết triệt để những vướng mắc, e ngại của người dân về tranh chấp đất đai hay quyền sở hữu trong quá trình đăng ký. Cùng với đó, bước khai thác dữ liệu thửa đất qua mã định danh quốc gia trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và kết nối liên thông về một đầu mối thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường tính minh bạch, giúp truy xuất nguồn gốc nông sản chính xác và thuận tiện hơn.

Tính hiệu quả của Nghị quyết 36 còn thể hiện ở việc đưa dịch vụ công về trực tiếp cấp cơ sở. Nhờ phân cấp thẩm quyền giải quyết trực tiếp cho UBND cấp xã, người dân không phải nộp hồ sơ lên các cơ quan cấp tỉnh hay trung ương như trước. Thời hạn giải quyết hồ sơ nén lại ở mức tối đa: chỉ không quá 3 ngày làm việc đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu mã số, và không quá 10 ngày làm việc đối với trường hợp có kiểm tra thực tế phục vụ xuất khẩu. Thậm chí, các bước tổng hợp danh sách trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi đối tác nước ngoài phê duyệt cũng đều siết chặt trong 3 ngày làm việc. Quyết định tinh giản thành phần hồ sơ - chỉ yêu cầu duy nhất một đơn đề nghị theo mẫu - mang lại giá trị thực tiễn lớn so với bộ hồ sơ gồm nhiều giấy tờ chứng minh phức tạp của quy định cũ.

Tất nhiên, đi kèm với trao quyền về cơ sở là bài toán về nguồn lực và áp lực trách nhiệm. Việc giao chính quyền cấp xã vừa tiếp nhận cấp mã số vùng trồng, vừa tổ chức hậu kiểm trong tối đa 3 tháng đòi hỏi UBND cấp tỉnh phải nhanh chóng bố trí nhân lực, hạ tầng công nghệ tương xứng. Song hành cùng yêu cầu đó, cơ chế bảo vệ cán bộ - cho phép loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm nếu làm đúng quy trình và không vụ lợi là “lá chắn” pháp lý cần thiết để đội ngũ công chức cấp xã an tâm, mạnh dạn thi hành công vụ.

Nghị quyết số 36 là giải pháp tháo gỡ kịp thời cho chặng đường quá độ trước khi Nghị định sửa đổi chính thức ban hành vào tháng 9-2026.

Bài, ảnh: HÀ TRIỀU

Chia sẻ bài viết