Không ít người tỏ ra lo lắng khi phát hiện cổ mình bỗng dưng phình to hoặc có một cục u ngày càng rõ rệt... thường gọi là “bướu cổ”. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người mắc bướu cổ khá cao, trong khi bệnh này có thể phòng tránh được... Trao đổi với phóng viên Báo Cần Thơ về vấn đề này, Tiến sĩ, bác sĩ Hoàng Kim Ước, Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, cho biết:
- Kết quả hai đợt điều tra vào năm 1994 và 1995 do Bộ Y tế, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp thực hiện tại các vùng của Việt Nam, trong đó có ĐBSCL, cho thấy: Tỷ lệ trẻ em bị bướu cổ ở nước ta chiếm 22,4%, riêng ở ĐBSCL chiếm từ 20%-30%. Kết quả xét nghiệm nồng độ I-ốt trong nước tiểu của người dân vùng ĐBSCL cũng cho thấy tình trạng I-ốt ở mức độ từ yếu đến trung bình. Từ đó, Việt Nam đã triển khai thực hiện chương trình phòng chống thiếu I-ốt để chống bệnh bướu cổ trên toàn quốc và tình hình thiếu I-ốt ở ĐBSCL dần được cải thiện đáng kể. Đến năm 2000, tỷ lệ bướu cổ trên cả nước giảm xuống còn 10%-14% và đến năm 2005, tỷ lệ trẻ em bị bướu cổ giảm xuống còn dưới 5%.
Tuy nhiên, nếu so sánh với các khu vực khác trên cả nước, thì ĐBSCL là một trong 2 khu vực vẫn còn thiếu hụt I-ốt ở mức độ nhẹ. Đây là vùng thường xuyên bị lũ lụt, đất đai bị bào mòn nên các loại thực phẩm mất đi rất nhiều I-ốt. Ví dụ như: đậu đũa trồng ở ĐBSCL có nồng độ muối I-ốt thấp hơn so với khu vực phía Bắc. Người dân sống trong vùng nghèo khó, thiếu I-ốt và không được bổ sung muối I-ốt thì tình hình thiếu I-ốt sẽ tiếp tục diễn ra, dễ gây nên rối loạn tuyến giáp, bướu cổ. Bộ Y tế đang tập trung cải thiện các bệnh rối loạn ở người do thiếu I-ốt tại khu vực ĐBSCL và tiến tới kiểm soát được việc thiếu-đủ I-ốt. Do vậy, cần duy trì việc vận động người dân dùng muối I-ốt lâu dài để phòng chống rối loạn tuyến giáp, bướu cổ.
* Ngoài nguyên nhân do thiếu I-ốt, còn những nguyên nhân nào khác gây bệnh bướu cổ, thưa tiến sĩ ?
- Ở ĐBSCL, nguyên nhân chủ yếu bị bướu cổ là do thiếu hụt I-ốt. Việc sử dụng nguồn nước và nguồn thực phẩm có những chất sinh yếu, góp phần làm cho thiếu hụt I-ốt nặng hơn. Tuy nhiên, chúng tôi không loại trừ những nguyên nhân khác. Chẳng hạn như các yếu tố khác trong môi trường làm cản trở sự hấp thu I-ốt của tuyến giáp hoặc ức chế quá trình sản xuất và bài tiết hormon tuyến giáp. Ví dụ như chất thioglucoside có trong các loại rau họ cải, đặc biệt goitrin (L-5-vinyl-2-thiooxazolidione) là chất gây bướu cổ có trong tự nhiên. Một số loại thực phẩm, ngũ cốc như sắn, ngô, măng, khoai tây ngọt, đậu lima có cyanoglucoside cũng là chất gây bướu cổ. Ngoài ra, còn có nguyên nhân gây bướu cổ tại chính tuyến giáp - bướu cổ tản phát- có tính chất bẩm sinh và có liên quan đến di truyền, bao gồm thiếu hụt bẩm sinh tổng hợp glycoprotein vận chuyển I-ốt từ bào tương qua phần đỉnh tế bào để tổng hợp hormon tuyến giáp, thiếu hụt enzym TPO...
* Nhiều trường hợp đến khi cổ phình to mới biết mình mắc bệnh. Vậy có cách nào nhận biết bệnh sớm hơn không, thưa tiến sĩ?
 |
|
Người bệnh bướu cổ đang khám bệnh tại Trung tâm Y tế Dự phòng TP Cần Thơ. Ảnh: B.Ng |
- Người được xác định mắc bướu cổ khi những thùy bên của tuyến giáp có thể tích lớn hơn đốt cùng ngón tay cái. Về triệu chứng của bệnh, khi chức năng tuyến giáp còn bình thường thì bướu cổ đơn thuần không có biểu hiện. Tuy nhiên, nếu như gặp triệu chứng khó thở, khó nuốt ở tuyến giáp (thường là biểu hiện của bướu cổ càng lớn, gây chèn ép thực quản, khí quản) thì người bệnh nên đến các cơ sở y tế để khám, phát hiện bệnh sớm, dễ điều trị hơn. Nếu bướu cổ càng to thì khó có thể làm mất đi được. Trường hợp chảy máu tự phát trong nang hoặc trong nhân có thể gây đau đột ngột tại chỗ và tuyến giáp sưng to nhanh. Bệnh nhân có cảm giác choáng váng, mặt ứ máu và nổi tĩnh mạch cảnh ngoài mỗi khi thực hiện động tác đặt tay lên trên đầu. Trường hợp biến chứng ung thư dẫn đến chèn ép lớn hơn gây thay đổi giọng nói, khàn tiếng, mất tiếng... Ở ĐBSCL, người lớn tuổi bị bướu cổ tương đối cao so với thế hệ trẻ, nhất là phụ nữ trưởng thành, có gia đình, phụ nữ sinh con. Nếu như ngay từ nhỏ không được bổ sung đầy đủ I-ốt, khi lớn dễ bị bướu cổ. Các thai phụ bị bướu cổ do thiếu hụt I-ốt nếu không bổ sung kịp thời sẽ có nguy cơ làm chậm sự phát triển tế bào não, giảm sút trí tuệ của trẻ.
* Một số người tỏ ra lo lắng khi nghe khuyến cáo cơ thể thừa I-ốt cũng dẫn đến tình trạng mắc các bệnh lý khác, cụ thể là nhiễm độc giáp. Tiến sĩ có thể thông tin rõ hơn về vấn đề này?
- Khi sản xuất muối I-ốt, nồng độ I-ốt có trong muối đã được tính toán sao cho vừa đủ đối với những người thiếu I-ốt và an toàn đối với những người bình thường, không thiếu I-ốt. Các nhà sản xuất còn tính toán cả lượng I-ốt đủ và mất đi ở các khâu: trong khi sản xuất, vận chuyển và đến tay người tiêu dùng, cách bảo quản trong gia đình và lượng I-ốt mất đi trong quá trình nấu ăn... để đảm bảo đủ lượng I-ốt, phòng bướu cổ. Tuy vậy, tình trạng thừa I-ốt gây nên biến chứng ở một số nước, trong đó có Việt Nam vẫn xảy ra. Theo WHO, nếu một người tiêu thụ trên 1.000 mcg/ 1 ngày sẽ dẫn đến tình trạng thừa I-ốt, đối với người bình thường nếu như thừa I-ốt thì I-ốt sẽ được đào thải qua nước tiểu. Tuy nhiên, có một phần nhỏ trong số những người thừa I-ốt không thích nghi được, sẽ dẫn đến tình trạng mắc một số bệnh. Chẳng hạn như ở một số vùng của Nhật Bản, những người sử dụng cả ngàn mcg I-ốt trong một ngày sẽ bị bướu cổ. Riêng ở Việt Nam, mỗi người chỉ được cung cấp 200 mg I-ốt trong 1 ngày, đây là ngưỡng an toàn.
Với những người sống lâu ngày ở những vùng thiếu I-ốt lâu dài dễ gây một số rối loạn về cấu trúc và chức năng trong tuyến giáp. Do đó, dù được bổ sung lượng I-ốt trở lại, tuyến giáp của những người này vẫn bị rối loạn. Do vậy, vai trò của iot rất quan trọng và nên bổ sung đầy đủ. Những người bị nhiễm độc giáp hay bị ung thư tuyến giáp lại là bệnh lý khác, không nên đồng nhất với bướu cổ do thiếu I-ốt.
* Qua thực tế điều trị, nghiên cứu về bệnh bướu cổ, tiến sĩ có lời khuyên gì đối với mọi người ?
- Biện pháp phòng bệnh là bổ sung muối I-ốt qua một số thực phẩm, nước uống, dầu I-ốt tiêm hoặc uống. Phòng bệnh bằng bổ sung I-ốt qua muối ăn là biện pháp được chứng minh hiệu quả nhất. Vì thế, chúng tôi có nhiều chương trình đưa I-ốt vào các chế phẩm, không chỉ ở trong muối mà cả trong nước mắm.
Khi phát hiện mình bị mắc bệnh bướu cổ, người bệnh không nên quá lo lắng, bởi bướu cổ có thể điều trị được nếu người bệnh tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ và kiên trì. Tùy theo từng trường hợp mà bác sĩ chỉ định điều trị ngoại khoa hay nội khoa. Cách điều trị ngoại khoa được chỉ định cho những trường hợp bướu cổ lan tỏa, bướu cổ lớn, bướu cổ gây chèn ép thực quản, khí quản, nghi ngờ ung thư... Hầu hết, các trường hợp này nên phẫu thuật bán phần tuyến giáp; sử dụng liều chẹn nhẹ TSH (hormon của tuyến yên kích thích tuyến giáp) sau phẫu thuật tuyến giáp để ngăn ngừa bướu cổ phát triển trở lại. Ngoài ra, tùy theo trường hợp bướu cổ mà cách điều trị nội khoa khác nhau, như: liệu pháp phối hợp hormon tuyến giáp và I-ốt, mục đích là kết hợp ức chế giải phóng TSH và bổ sung I-ốt - thường được áp dụng điều trị cho bệnh nhân bướu cổ địa phương không có nhân ở trẻ em; liệu pháp chẹn nhẹ TSH là liệu pháp điều trị hormon tuyến giáp với liều chẹn nhẹ TSH, áp dụng cho các trường hợp bệnh nhân trên 60 tuổi bị bướu cổ đơn thuần.
* Xin cảm ơn tiến sĩ!
BÍCH NGỌC (thực hiện)