Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho cộng đồng doanh nghiệp (DN). Tuy nhiên, khi cơ hội đến DN phải có đủ nội lực và sẵn sàng đón nhận. Điều này đòi hỏi cộng đồng DN phải nỗ lực nhiều hơn.
Cấp thiết đổi mới
Ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ), cho rằng: Vùng ĐBSCL đã khẳng định vai trò điểm tựa cho nền kinh tế thời kỳ vượt qua khủng hoảng với các ngành chủ lực lúa, gạo, thủy sản (cá tra, tôm
) và rau quả là rất lớn. Tuy nhiên, hiện không chỉ các ngành này mà còn rất nhiều các ngành nghề khác trong vùng đang đối mặt với những thách thức to lớn khi hội nhập quốc tế. Đó là: vùng thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao để đáp ứng nhu cầu phát triển; hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư tương xứng với nhu cầu hội nhập; chưa có chính sách đặc thù riêng và một chính sách đầu tư khởi nghiệp quy mô toàn vùng. Hơn hết, các DN trong vùng chưa thực sự hiểu rõ về những cơ hội, thách thức do hội nhập quốc tế mang lại để có chiến lược phát triển hiệu quả ở thị trường trong nước và quốc tế".
Năm 2015 đánh dấu bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Về cơ bản, Việt Nam đã hoàn tất đàm phán hàng loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA), AEC (Cộng đồng kinh tế ASEAN), TPP (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương) vốn không chỉ bó buộc trong các điều khoản về thương mại truyền thống mà mở rộng ra những vấn đề liên quan tới thể chế kinh tế, như: khuôn khổ pháp lý liên quan đến sở hữu trí tuệ, DN nhà nước, đầu tư, dịch vụ tài chính, mua sắm công,... Điều này củng cố thêm nhiều cơ hội phát triển và tạo thêm lực đẩy cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Đặc biệt, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28-4-2016 và Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020 nhằm đạt được các mục tiêu đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển kinh tế theo chiều sâu dựa trên tri thức đổi mới, sáng tạo, khoa học và công nghệ cao, trong đó DN cần nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.
 |
|
Ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh được xem là yêu cầu cấp thiết để phát triển DN. Trong ảnh: Khách hàng tìm hiểu sản phẩm gạo chất lượng cao của các DN thuộc Tổng Công ty Lương thực Miền Nam. |
Tại TP Cần Thơ, theo các DN, khó khăn lớn nhất là nhu cầu thị trường trong nước và nước ngoài giảm, nguồn nguyên liệu thiếu và không ổn định, lao động chưa đáp ứng được yêu cầu, môi trường kinh tế vĩ mô thiếu ổn định,
Điều này được minh chứng trong thời gian qua xuất khẩu của TP Cần Thơ có xu hướng sụt giảm do nhu cầu thế giới giảm và nhiều quốc gia đang gia tăng các rào cản kỹ thuật để bảo hộ hàng hóa trong nước. Thêm vào đó, nguồn nguyên liệu cho sản xuất và xuất khẩu luôn đối mặt với tình trạng khan hiếm và không ổn định do DN chưa chủ động được vùng sản xuất, chưa có được các cơ chế liên kết ổn định giữa người sản xuất và các DN chế biến. Nguồn vốn vay (nguồn tài trợ căn bản của DN) tuy khá dồi dào nhưng lãi suất cao và các thủ tục vay vốn phức tạp đã trở thành rào cản phát triển của các DN.
Chủ động đổi mới sáng tạo
Theo các chuyên gia, hội nhập quốc tế, để tranh thủ các cơ hội, ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước, các DN cần phát huy nội lực và chủ động nắm bắt cơ hội đúng lúc. Để tận dụng được các cơ hội, thu nhận các lợi ích, cơ hội tiếp cận thị trường mới từ AEC, TPP, EVFTA (Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU), FTA
, cộng đồng DN phải đối diện và tìm cách vượt qua rất nhiều thách thức. Chẳng hạn như về tự do cạnh tranh, tự do thương mại, các rào cản kỹ thuật về chất lượng hàng hóa, thách thức mở cửa thị trường nội địa
Các DN nội chịu sức ép cạnh tranh từ các DN nước ngoài, luôn luôn hơn hẳn về năng lực tài chính, công nghệ, chất lượng dịch vụ. Nội lực (tài chính, nhân lực và công nghệ) yếu khiến DN giảm lợi thế cạnh tranh, thiếu thị trường,... Do đó, các DN cần đánh giá và nhận thức đúng thực trạng của DN mình. Từ đó khắc phục các điểm yếu, phát huy điểm mạnh để nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần chủ động liên kết với các DN cùng ngành, tạo ra những liên kết đủ lớn tham gia vào thị trường, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, đủ sức để thực hiện chuỗi dịch vụ cung ứng hoàn chỉnh. Đẩy mạnh hợp tác với các DN xuất nhập khẩu để hình thành chuỗi cung ứng, nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu suất hoạt động.
Trong quá trình kinh doanh, ba yếu tố cạnh tranh cơ bản trong sản phẩm gồm: giá cả, chất lượng và dịch vụ. Sự khác biệt của các yếu tố này được thực hiện bằng cách đổi mới sáng tạo. Do đó, đổi mới sáng tạo phụ thuộc rất lớn vào tổ chức bộ máy, tư duy chiến lược, tầm nhìn của lãnh đạo DN và việc phát triển văn hóa đổi mới sáng tạo.Theo nhận định của một số DN quốc tế, vùng ĐBSCL cần phải có những giải pháp thiết thực, tận dụng lợi thế và tiềm năng để thu hút vốn, công nghệ, phương thức quản lý tân tiến từ các DN trong và ngoài nước để cải thiện môi trường đầu tư và có chiến lược phù hợp để nắm bắt cơ hội đầu tư. Vì thế, vùng cần phải đoàn kết thành một thể thống nhất để hành động đạt hiệu quả cao hơn và cần duy trì những giải pháp nâng cao tính cạnh tranh trong thu hút đầu tư.
|
Ông Trương Quang Hoài Nam, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho rằng: “Làm sao để nâng cao năng lực cạnh tranh của DN là vấn đề lớn. Thực trạng TP Cần Thơ đa số là các DN nhỏ và vừa, ít DN lớn đủ sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển sản xuất kinh doanh hiện nay được xem là cần thiết để phát triển DN”.
|
Ông Trần Thế Như Hiệp, Viện Kinh tế - Xã hội TP Cần Thơ, cho rằng: Để đổi mới sáng tạo, DN cần đầu tư rất lớn vào nguồn nhân lực và R&D (nghiên cứu và phát triển). Các DN dẫn đầu thị trường luôn có tỷ lệ đầu tư R&D cao nhất. Tuy nhiên, R&D là đầu tư mạo hiểm và khó kiểm soát hiệu quả hơn so với các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường vì DN khó có thể tính toán giá thành và hiệu quả. Nhưng nếu không đầu tư vào R&D, DN lại khó giữ được vị trí cạnh tranh. Vì vậy, hiệu quả của đổi mới sáng tạo dễ được đo lường hơn khi gắn với việc đưa ra thị trường các sản phẩm mới thông qua đánh giá doanh thu từ các sản phẩm đó. Trình độ công nghệ sản xuất tuy đã được nhiều DN ở TP Cần Thơ đầu tư đổi mới nhưng theo nhận định vẫn còn thấp so với thế giới và khu vực. Tốc độ đổi mới công nghệ và thiết bị sản xuất tuy đã có tiến bộ, song nhìn chung chưa đạt yêu cầu về mặt bằng phát triển chung của nền kinh tế. Phần lớn các DN trên địa bàn thành phố thuộc loại hình DN nhỏ và vừa, chưa quan tâm đúng mức đến việc đổi mới công nghệ, nghiên cứu nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; chưa thấy hết vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố chưa đạt yêu cầu, từ đó thiếu hẳn các nhà đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến chế tạo
DN được xem là trung tâm của hoạt động đổi mới công nghệ nên để hỗ trợ DN đổi mới công nghệ, thiết bị một cách hiệu quả thì thành phố cần phải xây dựng một lộ trình với những mục tiêu rõ ràng, cụ thể. Trên cơ sở đó DN có thể đánh giá được thực trạng công nghệ so với đối thủ cạnh tranh, có kế hoạch phát triển và đổi mới một cách thiết thực và hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí đầu tư, nâng cao năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh. Sở Khoa học và Công nghệ TP Cần Thơ đang triển khai nội dung của Đề án "Đánh giá trình độ ngành chế biến, bảo quản thủy sản, ngành chế biến nông sản và ngành cơ khí của thành phố Cần Thơ". Khi hoàn thành Đề án, thành phố sẽ có được kết quả về trình độ công nghệ và có thể so sánh với các địa phương khác trong vùng, TP Hồ Chí Minh hoặc các địa phương có triển khai đánh giá trình độ công nghệ. Quan trọng hơn hết là thiết lập được cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ sản xuất từ đó cung cấp thông tin, hỗ trợ tốt hơn và hiệu quả hơn cho DN thực hiện đổi mới công nghệ nâng cao năng suất chất lượng, năng lực đổi mới sáng tạo tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Bài, ảnh: Khánh Nam