Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II-2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là “điểm sáng” đóng góp vào tăng trưởng của toàn nền kinh tế.
.webp)
Thực hiện: Uyên Khanh - Tấn Lộc
• Nông nghiệp tăng trưởng ổn định, vững vai trò “bệ đỡ” của nền kinh tế
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành Nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,83% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98%, đóng góp 0,27%; ngành thủy sản tăng 4,88%, đóng góp 1,56%.

Thu hoạch cá tra tại tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: CT
Diện tích gieo sạ lúa đông xuân cả nước năm 2026 đạt 2.932.100ha, giảm 37.700ha so với vụ đông xuân năm trước; năng suất ước đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, tăng 88.100 tấn. Tính đến ngày 20-6-2026, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.712.200ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng ĐBSCL đạt 1.144.100ha, bằng 94,4%. Diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 3.847.100ha, tăng 22.500ha so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhóm cây ăn trái đạt 1.312.000ha, tăng 10.500ha; nhóm cây công nghiệp đạt 2.191.000ha, tăng 6.000ha.
Về chăn nuôi, đàn heo và gia cầm phát triển ổn định. Đàn trâu, bò có xu hướng giảm. Ước tính tổng số đàn heocủa cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 6 tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm 2025; tổng số gia cầm tăng 3,1%; tổng số bò giảm 2,8%; tổng số trâu giảm 6,6%.
Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 4.954.200 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.993.100 tấn, tăng 5,7%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.961.100 tấn, tăng 0,6%.
• Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa tích cực của đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 10,23%, đóng góp 33,07%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,34%, đóng góp 5,14%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%, đóng góp 0,54%; ngành khai khoáng tăng 6,67%, đóng góp 1,60%. Ngành xây dựng tăng 9,51%, đóng góp 6,85%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II-2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.

Nhà máy Gạch men Hà Thanh - Sóc Trăng, KCN Trần Đề đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại phục vụ nhu cầu nội địa lẫn xuất khẩu. Ảnh: MINH HUYỀN
Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30-6-2026 tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1-6-2026 tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước.
• Thương mại dịch vụ đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung
Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, hoạt động lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước.
Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Ngành vận tải, kho bãi tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,73%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,67%, đóng góp 13,51%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%, đóng góp 2,73%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97%, đóng góp 4,71%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,99%, đóng góp 1,81%.

Khách hàng mua sắm tại một cửa hàng Bách hóa Xanh trên địa bàn TP Cần Thơ. Ảnh: NAM HƯƠNG
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm ước đạt 3.889.500 tỉ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách 6 tháng đầu ước đạt 3.403,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 170,7 tỉ lượt khách.km, tăng 12,2%. Vận tải hàng hóa 6 tháng ước đạt 1.619,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 321,2 tỉ tấn.km, tăng 10,0%.
Khách quốc tế đến Việt Nam 6 tháng đạt 12,3 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.
• Nhập siêu hàng hóa 16,65 tỉ USD, nhập siêu dịch vụ 5,54 tỉ USD
6 tháng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỉ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,51 tỉ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 213,01 tỉ USD, tăng 26,0%, chiếm 79,9%.

Hoạt động sản xuất tại HTX Sản xuất thương mại Nhất Tâm tại khu công nghiệp Trà Nóc 2. Ảnh: MỸ HOA
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 283,17 tỉ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 78,46 tỉ USD, tăng 24,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 204,71 tỉ USD, tăng 37,3%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỉ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 115,2 tỉ USD.
Cán cân thương mại hàng hóa ước nhập siêu 16,65 tỉ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,95 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,3 tỉ USD.
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 17,42 tỉ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 9,0 tỉ USD (chiếm 51,7% tổng kim ngạch), tăng 18,1%; dịch vụ vận tải đạt 5,1 tỉUSD (chiếm 29,3%), tăng 34,0%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 22,96 tỉ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 8,97 tỉ USD), tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 10,25 tỉ USD (chiếm 44,6% tổng kim ngạch), tăng 32,2%; dịch vụ du lịch đạt 8,05 tỉ USD (chiếm 35,1%), tăng 12,7%.
Nhập siêu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 là 5,54 tỉ USD.
• Chỉ số giá sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Trong đó, chỉ số giá vàng tháng 6 giảm 8,46% so với tháng 5; giảm 2,72% so với tháng 12-2025; bình quân 6 tháng đầu năm tăng 58,12%. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6 tăng 0,11% so với tháng trước; bình quân 6 tháng đầu năm tăng 1,75%.

Giá xăng dầu tăng góp phần đẩy chỉ số giá sản xuất tăng. Ảnh: NAM HƯƠNG
Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất và chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,17%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,40%; chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 0,68%; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 0,92%.
UYÊN KHANH