Bắt đầu từ tháng 10-2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt - Nhật (VJEPA) chính thức có hiệu lực. Theo đó, Nhật miễn, giảm 7.220 dòng thuế đối với hàng Việt Nam, ngược lại Việt Nam cũng cắt ngay 2.586 dòng thuế đối với hàng Nhật. Theo cam kết, trong vòng 10 năm, buôn bán 2 chiều được miễn thuế khoảng 92%, với phía Nhật tự do hóa 95%, Việt Nam 88%.
Hiện nay, do suy thoái kinh tế nên xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật đang gặp nhiều khó khăn, với kim ngạch giảm mạnh so với năm ngoái. Trong 8 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật chỉ đạt 3,9 tỉ USD, giảm 32,1% so với cùng kỳ năm 2008. Trong số 3 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Nhật (dệt may, thủy sản và da giày) chỉ có dệt may tăng 15,9%, đạt 513 triệu USD. Theo VJEPA, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này được kỳ vọng có thể đạt 900 triệu đến 1 tỉ USD năm 2009 và khoảng 1,1-1,2 tỉ USD trong năm 2010. Riêng thủy sản và da giày giảm mạnh, với thủy sản giảm 15,4%, chỉ đạt 338 triệu USD và da giày giảm 85%, chỉ đạt 228 triệu USD.
 |
|
Xuất khẩu thủy sản sang Nhật phải chú trọng chất lượng để xác định lợi thế. Ảnh: vista |
Thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản năm 2008 đạt trên 16 tỉ USD, vượt xa mục tiêu do lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra là 15 tỉ USD vào năm 2010. Dự báo, kim ngạch thương mại 2 chiều sẽ đạt 18 tỉ USD năm 2010. Trong khi đó, theo số liệu của Bộ Công thương, thị phần hàng Việt Nam ở Nhật còn khá khiêm tốn, hiện đạt chưa tới 1,19% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Trung Quốc 18,83%, Indonesia 4,27%, Malaysia 3,05% hay Thái Lan 2,73%...
Với những ưu đãi từ VJEPA, Nhật sẽ là thị trường hấp dẫn để các doanh nghiệp (DN) khai thác mở rộng “đầu ra” cho sản phẩm. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội, nhiều DN Việt Nam vẫn còn ngán ngẩm. Tuy thuế quan được dỡ bỏ, nhưng vẫn còn các rào cản kỹ thuật, các quy định về hóa chất, môi trường... Hàng hóa khi vào Nhật sẽ không được thông quan nếu có nguyên phụ liệu, phụ kiện nằm trong danh mục cấm của nước này. Chẳng hạn như, mặt hàng tôm được giảm thuế nhập khẩu xuống 1 - 2% ngay khi hiệp định có hiệu lực, nhưng các DN thủy sản vẫn phải chú trọng đến chất lượng sản phẩm nếu không muốn mất lợi thế. Mặt khác, để đảm bảo ổn định thị trường, DN cần tránh tăng trưởng xuất khẩu quá nhanh vào một thị trường...
Ở chiều ngược lại, người tiêu dùng trong nước cũng khó mong giá hàng nhập khẩu từ Nhật sẽ giảm. Bởi đa phần mặt hàng hưởng thuế suất 0% là nhóm nguyên liệu sản xuất, công cụ phục vụ nghiên cứu. Số mặt hàng tiêu dùng, tuy có giảm thuế nhưng không đáng kể vì thực hiện theo lộ trình từ năm 2010-2012, nên giá cả sẽ không biến động đột ngột. Chẳng hạn, mặt hàng ti-vi, thuế nhập khẩu cơ bản hiện 40% giảm còn 36% từ 1-10-2009 và tiếp tục giảm trong vòng 9 năm đến năm 2017 xuống còn 0%. Tương tự, máy tính xách tay nhập từ Nhật cũng được giảm từ 10% xuống còn 8%, và giảm còn 0% vào năm 2012. Một yếu tố khác nữa là để hưởng được thuế suất từ VJEPA, hàng hóa phải xuất xứ từ Nhật. Trong khi đó, đa phần các bộ phận sản phẩm nổi tiếng của Nhật được gia công ở nước ngoài nhập rồi nhập trở về Nhật lắp ráp mới xuất đi các nước khác, nên không dễ hưởng lợi từ VJEPA. Hơn nữa, giá thành sản phẩm nhập khẩu, ngoài thuế còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác như tỷ giá ngoại tệ, khuyến mãi và chi phí vận chuyển...
Do đó, xét ở một khía cạnh nào đó, VJEPA được xem là nền tảng để Nhật tăng cường hội nhập kinh tế với khu vực ASEAN thông qua Việt Nam. Còn theo như nhận định của một chuyên gia người Nhật, đây là một cuộc chơi với những luật chơi rõ ràng mà người chơi sẽ được hưởng lợi nếu biết tận dụng lợi thế do VJEPA mang lại!
N. MINH