Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký Quyết định 1168/QĐ-TTg, ngày 16-7-2014 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035. Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam với mục tiêu phát triển ngành công nghiệp ô tô trở thành ngành công nghiệp quan trọng của đất nước. Ngành công nghiệp ô tô sẽ đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe tải, xe khách thông dụng và một số loại xe chuyên dụng; phấn đấu trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng và một số cụm chi tiết có giá trị cao trong chuỗi sản xuất công nghiệp ô tô thế giới. Quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nêu cụ thể nhiều con số về tỷ trọng số lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước so với tổng nhu cầu nội địa; dự kiến sản lượng xe; dự kiến xuất khẩu xe nguyên chiếc và phụ tùng
Hiện tại, xe ô tô lắp ráp tại Việt Nam vẫn chưa đạt tỷ lệ nội địa hóa cao. Mục tiêu cụ thể, số lượng xe sản xuất trong nước đến năm 2020, tổng sản lượng xe đạt tương đương 227.500 chiếc, trong đó, xe đến 9 chỗ tương đương 114.000 chiếc, từ 10 chỗ trở lên tương đương 14.200 chiếc, xe tải tương đương 97.960 chiếc, xe chuyên dụng 1.340 chiếc. Năm 2025, tổng sản lượng xe đạt 466.400 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ 237.900 chiếc, từ 10 chỗ trở lên 29.100 chiếc, xe tải 197.000 chiếc, xe chuyên dụng 2.400 chiếc. Năm 2035, tổng sản lượng xe đạt 1.531.400 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ 852.600 chiếc, từ 10 chỗ trở lên 84.400 chiếc, xe tải 587.900 chiếc, xe chuyên dụng 6.500 chiếc.
 |
|
Theo chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, tương lai giá ô tô trong nước sẽ ngày càng rẻ hơn và bằng giá với các nước trong khu vực. Ảnh: T.KHIÊM
|
Tỷ lệ số xe sản xuất lắp ráp so với nhu cầu nội địa đến năm 2020, xe sản xuất lắp ráp trong nước chiếm 67%, trong đó xe đến 9 chỗ đạt 60%, từ 10 chỗ trở lên đạt 90%, xe tải đạt 78%, xe chuyên dụng đạt 15%. Năm 2025, xe sản xuất lắp ráp trong nước chiếm 70%, trong đó xe đến 9 chỗ đạt 65%, từ 10 chỗ trở lên đạt 92%, xe tải đạt 78%, xe chuyên dụng đạt 18%. Năm 2035, xe sản xuất lắp ráp trong nước chiếm 78%, trong đó xe đến 9 chỗ đạt 75%, từ 10 chỗ trở lên đạt 94%, xe tải đạt 82%, xe chuyên dụng đạt 23%.
Về phát triển công nghiệp hỗ trợ, giai đoạn đến năm 2020, cơ bản hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô. Phấn đấu đáp ứng 35% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước. Giai đoạn 2021 - 2025 bắt đầu sản xuất được một số chi tiết quan trọng trong bộ phận truyền động, hộp số, động cơ (nhất là cho xe khách và xe tải nhẹ), từng bước tham gia hệ thống cung ứng sản phẩm hỗ trợ trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành công nghiệp ô tô thế giới. Giai đoạn 2026 - 2035, tiếp tục phát triển công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô, phấn đấu trở thành nhà cung cấp quan trọng nhiều loại linh kiện, phụ tùng cho ngành công nghiệp ô tô khu vực và thế giới. Đáp ứng trên 65% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước.
Cụ thể, tỷ lệ giá trị sản xuất chế tạo trong nước đối với sản xuất ô tô: đến năm 2020, xe đến 9 chỗ đạt 30 - 40%, từ 10 chỗ trở lên đạt 35 - 45%, xe tải đạt 30 - 40%, xe chuyên dụng đạt 25 - 35%; đến năm 2025, xe đến 9 chỗ đạt 40 - 45%, từ 10 chỗ trở lên đạt 50 - 60%, xe tải đạt 45 - 55%, xe chuyên dụng đạt 40 - 45%; đến năm 2035, xe đến 9 chỗ đạt 55 - 60%, từ 10 chỗ trở lên đạt 75 - 80%, xe tải đạt 70 - 75%, xe chuyên dụng đạt 60 - 70%. Về xuất khẩu, năm 2020, tổng lượng xe xuất khẩu đạt 20.000 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ 5.000 chiếc, từ 10 chỗ trở lên 5.000 chiếc, xe tải 10.000 chiếc. Giá trị xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt 4 tỉ USD. Năm 2025, tổng lượng xe xuất khẩu đạt 37.000 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ 15.000 chiếc, từ 10 chỗ trở lên 7.000 chiếc, xe tải 15.000 chiếc. Giá trị xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt 5 tỉ USD. Năm 2035, tổng lượng xe xuất khẩu đạt 90.000 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ 50.000 chiếc, từ 10 chỗ trở lên 15.000 chiếc, xe tải 25.000 chiếc. Giá trị xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt 10 tỉ USD.
Về giải pháp, sẽ áp dụng chính sách ưu đãi cao nhất đối với các dự án sản xuất xe thân thiện với môi trường. Các doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất, xuất khẩu linh kiện, phụ tùng và xe nguyên chiếc được áp dụng ổn định chính sách tín dụng xuất khẩu; được hưởng các chế độ ưu đãi của Chương trình Xúc tiến Thương mại quốc gia, ưu đãi theo Chương trình cơ khí trọng điểm; dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước với lãi suất thấp.
Đối với khu vực tiêu dùng, yêu cầu rà soát, điều chỉnh chính sách thuế, phí theo hướng tạo điều kiện phát triển ngành công nghiệp ô tô để đáp ứng nhu cầu sử dụng ô tô của nền kinh tế và của người dân, đồng bộ với phát triển của hạ tầng giao thông và yêu cầu bảo vệ môi trường. Theo đó, sẽ áp dụng mức thuế thấp nhất đối với các loại xe khách tầm trung và tầm ngắn từ 16 đến dưới 24 chỗ; áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với các loại xe thân thiện với môi trường; áp dụng mức thuế suất cao nhất đối với các loại xe chở người đến 9 chỗ, có dung tích động cơ trên 3.0 lít, đồng thời ban hành phí môi trường cao đối với xe có dung tích động cơ trên 3.0 lít. Thực hiện nhất quán hệ thống chính sách đã và sẽ ban hành trong thời gian tối thiểu 10 năm, phù hợp với xu thế hội nhập, tạo sự tin tưởng đối với các nhà đầu tư, nhà sản xuất.
QUANG PHÚ