Tại buổi sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn mới đây, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát nhấn mạnh, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới cần chú trọng tới nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời chú trọng tới ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất và tính liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp. "Sản xuất lương thực, thủy sản, thủy lợi, cơ giới hóa có nhiều thành tựu quan trọng. Tôi ngạc nhiên với tỷ lệ máy gặt đập liên hợp trên đồng ruộng, nhiều mô hình sản xuất lúa gạo đạt cơ giới hóa cao, hút lúa tự động, máy sấy, bóc vỏ, đóng bao tại nhiều địa phương. Đó chính là biểu hiện của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp", Bộ trưởng bày tỏ.

Thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp ở ĐBSCL. Ảnh: MỸ THANH
Trong giai đoạn 5 năm (2008 - 2013), cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng được áp dụng rộng rãi, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, giúp nông dân giảm công việc nặng nhọc, đảm bảo thời vụ gieo trồng cũng như hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai và dịch bệnh.
Từ năm 2010, thực hiện chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân mua máy móc, thiết bị phục vụ chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông, thủy sản theo Quyết định 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 và Quyết định 65/2011/QĐ-TTg ngày 2/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ, đã phần nào đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của nông dân, nhất là vùng sản xuất lúa hàng hóa. năm 2013, tỷ lệ cơ giới hóa làm đất trồng lúa đạt 80%, thu hoạch lúa đạt trên 305 (vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 60%), tuốt lúa đạt 95%, xay xát lúa gạo đạt 95% (vùng Đồng bằng sông Cửu Long có gần 13.000 máy gặt lúa, trong đó máy gặt đập liên hợp là 9.000 chiếc).
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến. Hiện ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng đã xây dựng được các cụm nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm; vùng cà phê, cao su ở Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Bắc Trung bộ; rau quả, cá tra, tôm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải miền Trung
Tại các vùng nguyên liệu, Bộ cũng đang thúc đẩy hợp tác công tư phát triển hệ thống chế biến, sấy, kho bảo quản; ưu tiên đầu tư, hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ hiện đại, cơ giới hóa; hỗ trợ đầu tư nghiên cứu và chế biến phụ phẩm từ canh tác, chế biến nông sản. Các địa phương đã hỗ trợ trên 1.600 tỉ đồng để thực hiện hơn 7.000 mô hình sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất từ 15 - 20%.
Theo ông Phạm Đồng Quảng, Cục phó Cục Trồng trọt, hiện nay liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ giữa nông dân và doanh nghiệp cũng đã được triển khai đa dạng về hình thức và cấp độ, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ tham gia sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác trong nông nghiệp. Mô hình "Cánh đồng mẫu lớn" đang được nhân rộng ở nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Thái Bình, Nam Định, Hà Nội
nhằm phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tăng thu nhập cho nông dân. Mặc dù vậy, theo ông Bạch Quốc Khang, Chánh văn phòng Ban cán sự Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc xây dựng nền nông nghiệp cao chưa rõ rệt để có thể nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Đặc biệt, thị trường khoa học, công nghệ còn sơ khai, chưa tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo và sản xuất kinh doanh nông sản.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nông sản tiêu dùng trong nước vẫn ở dạng sơ chế, tỷ lệ sản phẩm qua chế biến còn thấp, như rau quả chỉ chiếm khoảng 15%. Điều này không những làm giảm hiệu quả kinh tế của nông sản mà còn giảm các lợi ích xã hội khác như thu nhập và việc làm cho nông dân. Bên cạnh đó, công nghệ sau thu hoạch còn lạc hậu, dẫn đến chất lượng nông sản chưa cao, hao hụt nhiều. Mỗi năm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch là 16% đối với ngũ cốc và 22% với trái cây và rau. Đây là tỷ lệ cao so với mức bình quân của các nước ASEAN (khoảng 10%).
Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, để tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, Bộ sẽ tiếp tục ưu tiên vào đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu khoa học. Đặc biêt, Bộ sẽ quan tâm đầu tư đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ có trình độ cao từ các nguồn kinh phí khác nhau. Hiện đã có hơn 1.000 cán bộ khoa học trẻ từ các viện, trường thuộc Bộ đang được đào tạo sau đại học ở trong và ngoài nước.
Cùng với đó, Bộ cũng đã xây dựng Khung chương trình khuyến nông trọng điểm giai đoạn 2013 - 2020. Các hoạt động chuyển giao và ứng dụng khoa học kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư sẽ tiếp tục được đẩy nhanh. Bộ chú trọng tới việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sạch.
Bộ Nông nghiệp xác định vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong phát triển hàng hóa nên sẽ có chính sách khuyến khích tối đa để doanh nghiệp đầu tư như: xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng cơ sở bảo quản, chế biến, xử lý môi trường, đào tạo lao động của doanh nghiệp, ưu tiên vay vốn mua trữ nông sản xuất khẩu theo chủ trương của Chính phủ. Bộ cũng đổi mới phương thức hỗ trợ cho nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng cường hỗ trợ gián tiếp, hỗ trợ tiêu thụ, hỗ trợ tín dụng, đồng thời đổi mới cơ chế, thủ tục hành chính nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng cho nông dân và các đối tác kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
HOÀNG TÙNG (TTXVN)