Chương I
CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
Câu hỏi 1: Việc ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân nhằm mục tiêu gì?
Trả lời:
1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra: “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo động lực phát triển”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ... Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”. Để triển khai các Nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”.
Việc ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tài chính.
2. Thuế thu nhập cá nhân đã được nhiều nước áp dụng từ rất sớm, ngay từ khi nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập của dân cư cũng chưa cao, điều kiện kiểm soát thu nhập còn hạn chế. Đến nay trên thế giới đã có hơn 180 nước trên thế giới áp dụng loại thuế này.
Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng trên nguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế”, được thể hiện: người có thu nhập thấp thì chưa nộp thuế, người có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế cũng khác nhau. Thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư. Khác với thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt... là động viên thu nhập xã hội thông qua tiêu dùng của tổ chức và cá nhân, khác với thuế thu nhập doanh nghiệp điều tiết vào thu nhập của doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân động viên một phần thu nhập của cá nhân, thể hiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đất nước. Công dân được hưởng những thành quả của đất nước: cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự,... thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế.
Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thu nhập và điều tiết, phân phối lại thu nhập, thu hẹp hợp lý sự chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế.
3. Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, việc động viên thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước đang được thực hiện bởi 3 văn bản pháp luật thuế: thu nhập của cá nhân kinh doanh thực hiện theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập từ tiền lương, tiền công, trúng thưởng xổ số, chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất thực hiện theo quy định của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất. Việc thực hiện chính sách thuế như nói trên trong thời gian qua là tương đối phù hợp, nên đã phát huy tác dụng trong quản lý và thu ngân sách.
Trong những năm tới, thị trường tài chính tiền tệ, thị trường vốn, chứng khoán, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ,... được tiếp tục hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện cho các cá nhân có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau ngoài nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công (đầu tư vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư tài chính, chuyển nhượng vốn, chứng khoán,...). Đồng thời, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, không chỉ có người Việt Nam mà người nước ngoài đến làm ăn, sinh sống, có thu nhập tại Việt Nam cũng ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục áp dụng 3 loại thuế như hiện hành đối với thu nhập của cá nhân là không còn phù hợp:
+ Chưa đảm bảo sự công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế: cũng là thu nhập của cá nhân nhưng thu nhập từ kinh doanh thì nộp thuế 28% trên tổng thu nhập; nhưng thu nhập từ tiền công, tiền lương trên mức 5 triệu đồng/tháng mới nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần từ 10% đến 40%;
+ Nghĩa vụ thuế còn phân biệt giữa người Việt Nam và người nước ngoài (người Việt Nam nộp thuế cao hơn).
+ Chưa có chính sách thuế điều tiết thống nhất thu nhập cá nhân trong một văn bản pháp luật như thông lệ quốc tế.
Do vậy, việc ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là để hoàn thiện một bước hệ thống chính sách thuế của nước ta, góp phần khuyến khích cá nhân tích cực lao động, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững.
Câu hỏi 2: Luật thuế TNCN có những điểm gì mới so với chính sách thuế hiện đang áp dụng?
Trả lởi:
Luật thuế TNCN so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có những điểm mới như sau:
1 . Về đối tượng nộp thuế.
Ngoài những đối tượng nộp thuế theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là:
- Cá nhân kinh doanh đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp,
- Cá nhân có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất,
- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và một số thu nhập khác
Luật thuế TNCN bổ sung thêm đối tượng nộp thuế là những cá nhân có thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế, quà tặng.
2. Thu nhập chịu thuế được mở rộng đối với các khoản như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản trong đó có chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất ở; chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; Một số khoản thu nhập từ thừa kế, quà tặng; thu nhập từ trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino.
3. Thay việc áp dụng mức khởi điểm chịu thuế bằng quy định về khoản tiền giảm trừ cho chính đối tượng nộp thuế với mức tối đa 4 triệu đồng một tháng (tương đương với 48 triệu đồng một năm) và giảm trừ gia cảnh 1,6 triệu đồng một tháng cho mỗi cá nhân phụ thuộc như cha mẹ già, người tàn tật, vợ, con còn phải nuôi dưỡng...
Ví dụ: Một người thu nhập một tháng 10 triệu đồng sẽ không phải đóng thuế nếu như người ấy chứng minh được rằng họ đang phụng dưỡng cha, mẹ già, nuôi vợ và con nhỏ.
4. Người nộp thuế được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học; khoản đóng góp vào các tổ chức, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tàn tật, người già không nơi nương tựa.
5. Xác định cụ thể về thu nhập tính thuế để đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu, đặc biệt là khi xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú: Ngoài khoản giảm trừ gia cảnh, thu nhập này còn được trừ thêm các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề nghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo để áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
6. Qui định riêng về thu nhập tính thuế, biểu thuế giữa các cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Thống nhất nghĩa vụ thuế giữa người Việt Nam và người nước ngoài.
Câu hỏi 3: Luật thuế thu nhập cá nhân mới được thông qua có gì tiến bộ hơn cách thu thuế cá nhân hiện hành?
Trả lời:
- Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định, phương pháp quản lý thuế được kế thừa các phương pháp quản lý thuế hiện hành. Trong đó, có biện pháp thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn, cá nhân chi trả thu nhập trừ tiền thuế phải nộp và nộp vào ngân sách nhà nước trước khi trả thu nhập cho người có thu nhập chịu thuế. Cơ quan thuế áp dụng các biện pháp quản lý thuế hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, quản lý thuế theo phương pháp rủi ro, xây dựng dữ liệu về người nộp thuế, các cá nhân, cơ quan liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về người nộp thuế cho cơ quan thuế. Trên cơ sở đó, việc quản lý thuế thu nhập cá nhân sẽ tốt hơn so với hiện hành.
- Giảm trừ gia cảnh là một nội dung quan trọng của Luật Thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, người nộp thuế phải tự kê khai về hoàn cảnh của mình, về số lượng người phụ thuộc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai đó. Cơ quan thuế sẽ thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, đồng thời kiểm tra, xử lý nghiêm minh những vi phạm.
Câu hỏi 4: Luật Thuế thu nhập cá nhân đã đảm bảo sự công bằng cho mọi trường hợp, mọi khu vực, vùng miền hay chưa?
Trả lời:
Bất cứ một quy định nào cũng không thể đảm bảo sự công bằng tuyệt đối cho mọi trường hợp bởi vì như vậy sẽ rất phức tạp và sẽ tạo ra sự bất công bằng khác nếu tính giảm trừ khác nhau cho khu vực thì phải giảm trừ cho các ngành nghề khác nhau, các đối tượng khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này, Luật thuế áp dụng mức giảm trừ gia cảnh và biểu thuế lũy tiến từng phần từ 5% đến 35% thì mức điều tiết về thuế đã giảm hơn so với Pháp lệnh thuế thu nhập cao hiện hành. Ngoài ra, các khoản phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút (nếu có) đều không phải chịu thuế để khuyến khích người lao động vào làm việc tại các khu vực còn gặp nhiều khó khăn.
(Còn tiếp)
Nguồn: “Luật Thuế thu nhập cá nhân và giải đáp các tình huống” - Bộ Tài chính