Từ năm 2010, TP Cần Thơ đã triển khai chương trình điều trị Methadone, nhằm làm giảm việc sử dụng các chất dạng thuốc phiện bất hợp pháp, giúp bệnh nhân giảm nguy cơ nhiễm HIV, viêm gan B, C; duy trì việc làm, giảm gánh nặng về kinh tế, an ninh trật tự cho gia đình và xã hội. Bệnh nhân được uống Methadone hoàn toàn miễn phí, nhưng hiện số bệnh nhân bỏ điều trị ngày càng cao. Vấn đề này làm đau đầu ngành chức năng.
Bệnh nhân uống Methadone ở Cơ sở điều trị Methadone Thốt Nốt.
Gần 49% bệnh nhân bỏ điều trị
Tính từ năm 2010 đến 2016 tại các cơ sở điều trị: Ninh Kiều, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS TP Cần Thơ, có 1.080 bệnh nhân được phê duyệt điều trị Methadone. Ngoài ra, có 71 bệnh nhân từ cơ sở khác chuyển đến và 93 bệnh nhân chuyển đi. Sau khi tham gia điều trị, có 483 bệnh nhân ngừng điều trị (chiếm gần 49%), 47 bệnh nhân tử vong. Chỉ có 528 bệnh nhân đang duy trì điều trị. Trong số bỏ điều trị, cao nhất là tự ý bỏ điều trị 256 trường hợp (không rõ lý do), 149 trường hợp bị bắt. Ngoài ra còn có các lý do khác như: bỏ địa phương, đi làm ăn xa, bệnh lý khác, vi phạm nội qui cơ sở…
Từ trực trạng trên, Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS TP Cần Thơ thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến việc bệnh nhân bỏ điều trị Methadone tại TP Cần Thơ giai đoạn 2010-2016” của nhóm nghiên cứu công tác tại trung tâm gồm: Võ Thị Năm, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Tiến Trình, Phạm Nguyễn Anh Thư, Nguyễn Trọng Nhân. Thời gian thực hiện từ tháng 7-2016 đến tháng 10-2016 để tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp khả thi cho chương trình điều trị Methadone.
Nhóm nghiên cứu đã hồi cứu hồ sơ bệnh án và phỏng vấn trực tiếp 250 người gồm: bệnh nhân bỏ điều trị và người nhà, bệnh nhân đang điều trị Methadone tại 4 cơ sở điều trị Methadone ở TP Cần Thơ (Ninh Kiều, Cái Răng, Ô Môn và Thốt Nốt). Kết quả nghiên cứu cho thấy, gần 95% người tiêm chích ma túy là nam giới, tập trung ở nhóm ≤ 39 tuổi (chiếm trên 84%). Trình độ học vấn từ trung học trở xuống là 74%, 60% không có gia đình, 72%-80,8% không có khả năng về tài chính. Tần suất sử dụng heroin từ ≤ 5 lần/ngày chiếm 99,6%, tỷ lệ bệnh nhân Methadone nhiễm HIV có điều trị thuốc kháng vi-rút ARV là 65,6%.
Đa phần đối tượng mà nhóm nghiên cứu khảo sát đều không có khả năng về tài chính; người hỗ trợ bệnh nhân điều trị phần đông là cha, mẹ. Phần lớn bắt đầu sử dụng chất gây nghiện từ lúc trẻ (≤ 29 tuổi), thâm niên sử dụng chất gây nghiện thấp nhất 1-3 năm, cao nhất trên 16 năm. Trong số bệnh nhân bỏ điều trị, nhóm bệnh nhân có thời gian uống Methadone từ 3-36 tháng chiếm 80,8%.
Từ những dữ liệu trên, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp để duy trì điều trị Methadone trên địa bàn.
Cải thiện để “giữ” bệnh nhân
Hiệu quả của sau khi uống Methadone là: Tỷ lệ bệnh nhân dương tính với heroin giảm còn 21,7% sau 6 tháng và chỉ còn 5,1% sau ≥ 54 tháng. Methadone làm giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong các bệnh nhân (không phát hiện bệnh nhân nhiễm HIV mới sau khi uống Methadone). Sau điều trị, bệnh nhân tìm được việc làm tăng nhẹ, thể trọng trung bình tăng. Tỷ lệ bệnh nhân làm việc không toàn thời gian duy trì ở mức 58% (hầu hết bệnh nhân lao động tự do và buôn bán).
Theo nhóm nghiên cứu, lý do bỏ điều trị Methadone là do bệnh nhân không kiên trì, vì Methadone phải uống hằng ngày và kéo dài (có thể uống suốt đời); giờ mở cửa của cơ sở Methadone không phù hợp với giờ làm việc của bệnh nhân; bị bạn bè lôi kéo, nên họ tái sử dụng heroin, sử dụng ma túy đá, tác dụng phụ của Methadone/thuốc kháng vi-rút ARV (tác dụng phụ của Methadone và có khả năng từ tác dụng phụ của điều trị ARV chiếm tỷ lệ 65,6%) và trốn nợ. Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến việc duy trì điều trị là: bệnh nhân ỷ lại vào gia đình, tính sẵn có của chất gây nghiện, sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng. Yếu tố liên quan đến việc bệnh nhân bỏ Methadone: không tăng cân, bỏ liều liên tiếp từ 6 lần trở lên, không được tư vấn khi bỏ liều, không tái khám đúng hẹn, nhiễm HIV không điều trị ARV, tác dụng phụ của Methadone, thuốc ARV.
Từ các nguyên nhân, nhóm nghiên cứu đề xuất cần tư vấn thường quy, tư vấn tích cực, xử lý kịp thời đối với bệnh nhân bỏ liều; kết nối, tìm hiểu lý do bỏ điều trị của từng bệnh nhân, tích cực vận động họ quay lại điều trị; điều trị các bệnh phối hợp; điều chỉnh giờ mở cửa tạo điều kiện cho bệnh nhân có việc làm uống thuốc sớm (từ 6 giờ 40 phút); mở rộng cơ sở cấp phát thuốc Methadone; nâng cao tinh thần phục vụ và cải thiện chất lượng chương trình Methadone.
Bài, ảnh: H.HOA