Sau gần 4 năm Việt Nam gia nhập WTO, sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã có chuyển biến tích cực. Nhưng theo các chuyên gia vẫn còn những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ nhằm tái cấu trúc lại nền nông nghiệp, tăng thu nhập cho nông dân.
NHỮNG CHUYỂN BIẾN...
Theo thống kê của các ngành chức năng, gần 4 năm gia nhập WTO, nông sản Việt Nam đã tăng nhanh về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu hàng nông sản được mở rộng đến các quốc gia khó tính bên cạnh thị trường truyền thống. Đây là khả năng thích ứng nhanh của nông dân, doanh nghiệp (DN) trong việc ứng dụng các tiêu chí mới trong sản xuất hàng hóa gắn với thị trường xuất khẩu, góp phần làm tăng giá trị nông sản... Nông dân và DN đã mạnh dạn ứng dụng các tiêu chuẩn quốc tế vào sản xuất theo hướng sạch, chất lượng, chi phí thấp để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Tại hội thảo “Nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế” diễn ra tại tỉnh Đồng Tháp cuối tháng 4-2011, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Từ, Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng, cho biết: “Trong năm đầu gia nhập WTO, cơ hội cải thiện đời sống của nông dân đã diễn ra nhờ vào cơ hội xuất khẩu nông sản nhiều hơn”. Hàng loạt các cơ chế, chính sách về nông nghiệp được ban hành, như khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biến nông sản, nhất là công nghệ sinh học và công nghệ sau thu hoạch, đào tạo nghề cho nông dân, gắn nông nghiệp với nông dân và nông thôn. Đặc biệt, Nghị quyết về “Tam nông” được Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (Khóa X) thông qua vào tháng 7-2008 là một minh chứng rõ ràng về sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực này...
Các chuyên gia nhận định, các mặt hàng nông sản phần lớn đủ khả năng hội nhập tốt, có 6/10 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỉ USD/năm. Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, năm 2008-2009, tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm hàng hóa khác sụt giảm mạnh, nhưng hàng nông- lâm- thủy sản vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng, từ 11-14%/năm. Riêng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt trên 14 tỉ USD, vượt chỉ tiêu bình quân giai đoạn 2006-2010. Đến năm 2010, kim ngạch tăng đến 22% so với cùng kỳ, lập kỷ lục với 19,15 triệu USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều, tiêu đen, đứng thứ hai về xuất khẩu gạo và thứ ba về xuất khẩu cao su thiên nhiên.
Theo kế hoạch, xuất khẩu nông- lâm- thủy sản năm 2011 có thể tăng thêm 20%, đạt 23 tỉ USD. Trong đó, 9 mặt hàng được đưa vào nhóm chủ lực gồm: thủy sản, rau quả, nhân điều, cà phê, chè các loại, hạt tiêu, gạo, sắn và sản phẩm từ sắn, cao su. Trong 4 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu nông- lâm- thủy sản đạt khoảng 8 tỉ USD, tăng 43% so với cùng kỳ.
CẦN “ĐÒN BẨY” VỀ CHÍNH SÁCH
Dù các mặt hàng nông- lâm- thủy sản được đánh giá nhiều triển vọng về thị trường góp phần khẳng định uy tín của Việt Nam trên thị trường thế giới, nhưng khu vực nông nghiệp và nông thôn lại chịu nhiều tác động sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Nông dân chưa được trang bị kiến thức và điều kiện để thích nghi với môi trường cạnh tranh khắc nghiệt khi mở cửa thị trường, bảo trợ của Nhà nước cho nông nghiệp lại giảm dần theo lộ trình. Trong khi đó, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu đạt kim ngạch cao, nhưng chưa có thương hiệu và phải thông qua trung gian. Công tác dự báo thị trường thiếu chuẩn xác và chậm cũng gây khó khăn không nhỏ cho ngành nông nghiệp, ảnh hưởng lớn đến nông dân... Các chuyên gia cho rằng, những khó khăn này là tất yếu đối với nền nông nghiệp của các quốc gia đang phát triển khi hội nhập.
Hiện nay, Nhà nước vẫn trợ cấp khoảng 10% tổng mức tiêu dùng chung cho các sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng trong nước, dù đã cắt bỏ trợ cấp cho nông sản xuất khẩu theo lộ trình cam kết. Mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nông sản cũng giảm từ 23,5% xuống còn 20,9%. Tuy nhiên, độ mở của thị trường ngày càng mở rộng theo cam kết của WTO, các ưu thế này dần được xóa bỏ. Các chuyên gia khuyên rằng, nông nghiệp Việt Nam cần phải phát triển theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm lao động nông nghiệp. Đồng thời, phát triển mô hình kinh tế tập thể với quy mô lớn, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng nông nghiệp theo chiều sâu. Nông sản Việt Nam phải được sản xuất theo các quy chuẩn được chấp nhận rộng rãi trên thị trường trên thế giới.
Nông nghiệp Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững cần “đòn bẩy” từ chính sách của Nhà nước. Thời gian qua, nhiều trang trại, nhà máy chế biến nông, thủy sản đã đạt các chứng nhận quốc tế, nhưng việc thực hiện các khuyến cáo theo tiêu chuẩn này còn hình thức, phong trào và chỉ áp dụng riêng rẽ cho từng thị trường. “Việc tiêu chuẩn hóa cần được thực hiện trong các công tác kế toán và ghi chép sổ sách thống kê của DN, nông trại”- Tiến sĩ Nguyễn Minh Đức - Trường Đại học Nông lâm TPHCM, cho biết. Ngoài chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước cần điều chỉnh chiến lược, quy hoạch phát triển nông nghiệp gắn với thị trường và quy hoạch vùng chuyên canh quy mô lớn, khuyến khích nông dân ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất để đạt năng suất cao. Đồng thời, có chính sách khuyến khích đầu tư vào chế biến hợp tiêu chuẩn và liên kết giữa sản xuất-chế biến-xuất khẩu trên cả ba nhóm nông-lâm-thủy sản dựa vào mối liên kết “bốn nhà”.
Bài, ảnh: MIÊN HẠ