Khoảng bảy, tám tuổi nó đã được đi chợ một mình. Phần do nhà cách chợ không xa, phần đã được má dẫn đi, giới thiệu với người bán, nên người ta dần quen mặt!

Ô trầu và mâm trầu cau. Ảnh: DUY KHÔI
Đặc biệt là bà Bắc bán trầu cau phía trước khu nhà lồng chợ thịt. Bà có hẳn cái sạp gỗ hình chữ nhật đầy ắp cau trầu cùng các món phụ trợ, được sắp xếp đẹp mắt. Dưới nền xi măng phía sau lưng bà còn để sẵn nhiều cau trầu dự trữ. Trên sạp, phần chiếm diện tích ít ỏi nhứt, là các món vôi, xác giấy, thuốc xỉa. Cục vôi màu hồng chỉ khoảng nửa ký bọc trong lá chuối tươi, để giữ độ ẩm. Xác giấy, không biết làm từ nguyên liệu gì, trông như khô mực nướng ép mỏng, bằng khoảng khổ tập học trò. Thuốc xỉa, có hai thứ, gồm thuốc khối, “nặng đô” - sợi đen, nhuyễn, nén miếng, mỏng như cái sổ tay nho nhỏ. Thuốc rẫy (lạt) “nhẹ đô” - sợi to hơn, vàng ruộm, cuộn như chiếc gối hình khối chữ nhật, bề dài độ gang tay người lớn.
Dưới mái che gie ra bốn phía, bà Bắc dáng cao, gầy, ngồi ngay giữa, hai góc sạp phía trước là hai cái rổ cạn, chất vun chùn những ốp trầu xanh. Nói trầu xanh là theo tên gọi chung, chớ cũng có loại trầu vàng óng, mướt rượt - được bắt thành từng xấp, gọi là “ốp”. Mỗi ốp xếp liền nhau thành lớp, từng lớp xếp xen kẽ đều, chất cao lên khỏi miệng rổ cỡ nửa bàn tay người lớn. Nó mê nhứt lúc tay bà Bắc dùng chiếc dao con chó (loại có cán xếp, lưỡi thép cứng, bén ngọt) róc vỏ quanh trái cau. Sau đó bà tiện một đường tròn, tách ra cái núm cau trông như chiếc nón lá trắng được phết lớp sơn màu xanh sẫm trên chóp. Một nửa ruột cau trắng nuột lộ ra. Con dao sắc tiếp tục chẻ đôi trái cau (không cho đứt rời) cùng lúc với giọng nói đầy đắc ý: “Này nhé! Cau trắng lơi ruột chứ không phải cau hồng quắn ruột nhé! Bà là bà bán cho con nít hay người lớn gì cũng như nhau nhé!”. “Lơi” hay “quắn” là phân biệt bởi những vân trắng trong ruột cau thưa hay khít - nghĩa là cau đã vừa ăn, hay vẫn còn non. Cau trắng lơi ruột là cau đúng vóc, không quá già, “ngọt thịt” hơn. Ngược lại, là cau non, chát, không ngon... Trầu cũng vậy. Loại xanh sẫm, lá dày, trông thô ráp, nhai giòn, dễ bị say. Loại lá mỏng, dịu, màu vàng ngọt, têm xíu vôi, gói miếng cau trắng nõn, đút vô miệng, nhai rộp rộp nghe bắt ngon… Có người chỉ thích ăn trầu với ruột cau bỏ vỏ. Hoặc, thay vào đó, người ta dùng “xác giấy” - miếng nhỏ thôi - như cái vỏ cau đã róc, chẻ ra cỡ phần tám trái cau.
Ngoài giờ học ở trường hay ở nhà, nó thường làm chuyện nhà giúp má. Trong đó có việc ngoáy trầu cho nội khi nhà có khách quen thường đến chơi. Có khi phải têm trầu sẵn cho ai đó theo yêu cầu. Nó làm miết đến thuộc lòng, ai thích hay không thích món gì trong miếng trầu… Có lẽ vì vậy mà nó ấn tượng và nhớ hoài cái “món ăn cổ tích” của bà. Nhớ mãi truyện cổ tích trầu cau từng được học. Cũng hằng được nghe bà nhắc mỗi khi nói đến cái nghĩa anh em ruột thịt, tay chân; cái tình vợ chồng keo sơn, tấm mẵn...
Cũng như nó cứ nhớ hoài cái chợ đã in không biết bao nhiêu là dấu chân của nó từng qua thời thơ ấu…
Nhưng, chợ quê nó giờ đổi thay nhiều, dáng xưa không còn nữa. Dù nay đã trở thành “tỉ phú thời gian”, nó vẫn không đủ hào phóng cho những bước chân rong chơi tìm về kỷ niệm đi chợ xưa ngày ấy chốn quê nhà!
Tất cả chỉ còn trong hoài niệm. Ấm nồng. Khó tả...
(6.26)
Tản văn của NGUYỄN THỊ THANH NGỌC