Sau 5 năm gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang lại nhiều thách thức cho doanh nghiệp (DN) và cả các nhà quản lý trong điều hành kinh tế.
* Nhọc nhằn ra “biển lớn”
 |
|
Ký kết thỏa thuận hợp tác đầu tư của các địa phương ĐBSCL. |
Theo các chuyên gia kinh tế, gia nhập WTO, giao thương, xuất khẩu được mở rộng nhờ giảm thuế quan, nhưng rào cản thương mại, phi thuế quan của nước nhập khẩu ngày một dày hơn để bảo hộ nền sản xuất trong nước. Trong khi các địa phương mở nhiều cuộc xúc tiến rầm rộ ra nước ngoài, nhưng kết quả mang về không bao nhiêu, DN thì thiếu liên kết, nên hình ảnh DN, vùng ĐBSCL vẫn mờ nhạt trong mắt nhà đầu tư. Các DN ĐBSCL vẫn đang “nhọc nhằn” chịu nhiều thua thiệt trong hội nhập kinh tế thế giới. Kết quả thu hút các nguồn vốn ODA, FDI, NGO vào vùng đạt thấp. Trong các chuỗi sự kiện diễn ra tại Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL (MDEC Cà Mau 2011) từ 18 đến 21-10-2011, vấn đề liên kết vùng, liên kết DN để xúc tiến đầu tư, hợp tác kinh tế quốc tế được đưa lên bàn nghị sự với sự tham gia của lãnh đạo bộ, ngành Trung ương, địa phương, các chuyên gia kinh tế, DN trong và ngoài nước. Qua 5 diễn đàn (từ năm 2007 đến nay), có rất nhiều đề xuất liên kết được đặt ra, nhưng liên kết vẫn rời rạc!
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ĐBSCL là vùng tiếp nhận rất ít nguồn vốn ODA. Từ năm 2006 đến 31-12-2010, tổng vốn ODA đã ký kết cho các tỉnh vùng Tây Nam Bộ khoảng 1.899,8 triệu USD, trong đó vốn vay khoảng 1.700 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại 99 triệu USD. Vốn FDI vào vùng trong 5 năm 2006 - 2010, thu hút được 358 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 7,61 tỉ USD. Các địa phương dẫn đầu về vốn FDI gồm Long An, Kiên Giang, Hậu Giang, TP Cần Thơ, Cà Mau. Vốn FDI trong lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao (289 dự án, vốn 3,75 tỉ USD, chiếm 80,7% tổng vốn đầu tư vào vùng) nhưng đa số các dự án có quy mô nhỏ. ĐBSCL là vựa lúa lớn của cả nước, vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp và chế biến, nuôi trồng thủy sản nhưng chưa thu hút được FDI trong các lĩnh vực này, đặc biệt chưa thu hút được FDI trong lĩnh vực chế biến bảo quản nông, thủy sản sau thu hoạch nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông thủy sản xuất khẩu. Thêm vào đó, các địa phương vẫn chưa xác định được những khó khăn và thuận lợi khi sử dụng nguồn vốn ODA, nên dẫn đến việc không xác định được những lĩnh vực ưu tiên để vận động ODA.
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình kinh tế Fulbright, nhận xét: “Đóng góp 20% GDP cả nước, nhưng tỷ lệ đầu tư vào vùng lại thấp hơn mức đóng góp. ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức trong tăng trưởng kinh tế. ĐBSCL dành nhiều công sức cho thu hút vốn FDI, nhưng gần như không có đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong khi đây là thế mạnh của vùng. Vốn FDI vào vùng để giải quyết công ăn việc làm, đóng góp vào ngân sách của các địa phương cũng rất nhỏ”. Trong 20 năm qua, ĐBSCL chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, nhưng sự chuyển dịch kinh tế này đang chậm lại, năng lực cạnh tranh của vùng thấp. Do vậy, ĐBSCL cần có cơ chế liên kết cụ thể, vượt ra khỏi ranh giới hành chính và liên kết trên từng lĩnh vực, ngành hàng để phát triển nội lực theo chiều sâu hơn. Đồng thời phải hướng mạnh liên kết ra bên ngoài với TP HCM, các vùng miền khác cả nước và vươn ra quốc tế.
* Cần cơ chế hợp tác phát triển
Hằng năm, ĐBSCL đóng góp gần 20% GDP cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn vùng đạt trên 10%/năm, nhưng tổng vốn đầu tư vào vùng lại thấp hơn mức mà vùng đóng góp. Cả nước đang nhập siêu, trong khi ĐBSCL đang xuất siêu các mặt hàng thủy sản, gạo. Rõ ràng, ĐBSCL vẫn dựa vào tiềm năng phát triển là chính mà chưa khai thác được các nguồn lực đầu tư.
Tại diễn đàn DN ĐBSCL, ông Trần Ngọc Ẩn, DN Việt kiều Úc đang đầu tư tại tỉnh Kiên Giang, nói: “Những năm qua Chính phủ đã có nhiều cải cách môi trường đầu tư, nhà đầu tư rất hoan nghênh. Tuy nhiên, phải nhìn nhận là công tác quản lý của các địa phương còn nhiều yếu kém, gây lãng phí. Theo thống kê, lượng tiền của kiều bào gởi về Việt Nam hơn 8 tỉ USD/năm, nhưng được phân tán trong xã hội, cần có chính sách huy động 8 tỉ này về một mối, có thể thành lập quỹ đầu tư kiều bào để đưa dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh hiệu quả hơn”. Theo ông Ẩn, ngoài khai thác kỹ năng phần cứng của kiều bào, cũng cần khai thác kỹ năng phần mềm của họ để tạo niềm tin vững chắc cho kiều bào khi về nước đầu tư và các chính sách đầu tư cần minh bạch hơn.
Ông Phạm Thành Tươi, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, nói: “Liên kết là xu hướng tất yếu trong phát triển. Tuy nhiên, đến bây giờ vẫn chưa có một cơ chế nào cụ thể để chúng ta thực hiện có hiệu quả. Cần đánh giá thực trạng cơ chế liên kết kinh tế giữa các tỉnh, thành vùng nội vùng với các tỉnh, thành ngoài vùng để đưa ra một cơ chế liên kết phù hợp”. Hiện nay, cơ chế liên kết vùng cũng chỉ mới dừng lại ở các ký kết chương trình hợp tác, các biên bản thỏa thuận hợp tác giữa các địa phương chứ chưa có một liên kết mang tính tổng thể toàn vùng. Do vậy, cần có định hướng hợp tác rõ ràng, không thể đơn lẻ trong mời gọi đầu tư, và hợp tác kinh tế quốc tế cần sức mạnh tập thể để tạo đối trọng với nhà đầu tư.
Theo ông Thái Văn Rê, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM, thực tế 10 năm hợp tác, liên kết song phương với 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL, các DN TP HCM đã và đang đầu tư kinh doanh có hiệu quả tại vùng. Với trên 13 khu- cụm công nghiệp và 483 dự án trên các lĩnh vực, vốn đăng ký thực hiện trên 258 tỉ đồng. TP HCM khẳng định luôn tạo điều kiện để DN mở rộng đầu tư tại ĐBSCL và hỗ trợ vùng trong xúc tiến đầu tư. Ông Syamsudin Sidabutar, đại diện thương mại của Đại sứ Indonesia tại Việt Nam, cho biết: “Chúng ta đã có những chuyển biến đáng kể trong tiến trình tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ theo các Hiệp định Thương mại ASEAN. Chương trình hành động ASEAN về hợp tác năng lượng giai đoạn 2010- 2015 đã phản ánh cam kết khẳng định hành động cụ thể vì một cộng đồng ASEAN bền vững hơn. Và khẳng định sự hợp tác toàn diện của ASEAN trên lĩnh vực an ninh lương thực, kinh tế, tài chính... để xây dựng một ASEAN trở thành khu vực cạnh tranh công bằng, toàn diện và bền vững”. Theo ông Syamsudin Sidabutar, để tạo dựng liên kết cộng đồng ASEAN còn rất nhiều việc phải giải quyết, nhưng đây là cơ hội để ASEAN xích lại gần nhau hơn và phát triển nhanh hơn.
Bài, ảnh: SONG NGUYÊN