28/10/2026 - 07:36

ĐBSCL:

Giải pháp bảo vệ vườn cây ăn trái trong mùa khô hạn, xâm nhập mặn 

Mùa khô hạn cận kề, ngành Nông nghiệp tập trung hỗ trợ nông dân triển khai các giải pháp bảo vệ vườn cây hiệu quả...

Hiệu quả sản xuất

Ông Dương Đức Huy, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nhận định: “Sản xuất cây ăn trái vùng ĐBSCL và Nam Bộ tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường, phát triển vùng nguyên liệu tập trung, liên kết sản xuất - tiêu thụ và mở rộng xuất khẩu. Việc áp dụng quy trình canh tác tiên tiến, quản lý dịch hại tổng hợp, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, truy xuất nguồn gốc và xây dựng mã số vùng trồng ngày càng được quan tâm thực hiện, tạo uy tín sản phẩm trên thị trường xuất khẩu…”.

Năm 2026, vùng ĐBSCL và Nam Bộ có trên 679.000ha (phần lớn ở ĐBSCL) cây ăn trái, tăng 9.600ha so với năm 2025; thu hoạch khoảng 586.300ha, tổng sản lượng 10.780.500 tấn, tăng trên 300.000 tấn so với năm 2025. Diện tích sản xuất tăng, mở rộng năm 2026 chủ yếu từ cây dừa 4.200ha, bưởi 2.500ha, chuối và khóm 1.200ha. Sản lượng tăng tập trung ở cây dừa là 155.400 tấn, sầu riêng 135.800 tấn, chuối 86.300 tấn; xoài 51.400 tấn; thanh long 37.500 tấn, khóm 12.600 tấn và chôm chôm 6.300 tấn…


Sầu riêng - cây trồng trên địa bàn TP Cần Thơ dễ mẫn cảm với mặn, cần bảo vệ trong mùa khô, xâm nhập mặn 2026-2027.

Tại TP Cần Thơ có 119.779,4ha trồng cây lâu năm, trong đó cây ăn trái là 101.123,3ha, tổng sản lượng thu hoạch từ đầu năm đến nay được trên 1,15 triệu tấn, tăng 6,92% so cùng kỳ, đạt 81,92% kế hoạch năm. Ngành Nông nghiệp thành phố đã hỗ trợ chứng nhận VietGAP, Global GAP cho 3 hợp tác xã có quy mô trên 50 ha/hợp tác xã gồm nhãn, sầu riêng. Công tác cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được quan tâm triển khai, góp phần nâng cao tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm; thúc đẩy liên kết tiêu thụ đạt 19.838 tấn, bao gồm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực như sầu riêng, nhãn, vú sữa, mít, bưởi...

Ứng phó hạn, mặn

Theo dự báo của ngành khí tượng thủy văn, mùa khô năm 2026-2027 thuộc nhóm năm ít nước, thủy triều cao vào nửa cuối các tháng 12-2026, tháng 1, tháng 2, tháng 3-2027. Vì vậy, xâm nhập mặn khả năng cao xuất hiện sớm ngay từ cuối tháng 12-2026, thời gian ảnh hưởng cao từ tháng 1 đến tháng 4-2027. Mức độ ảnh hưởng của xâm nhập mặn phụ thuộc vào nguồn nước về vùng ĐBSCL từ thượng nguồn sông Mekong và kế hoạch chuyển đổi sản xuất để thích ứng trên đồng bằng.

ĐBSCL được đánh giá là một trong những khu vực chịu tác động rõ nét. Thời gian trên, nguồn nước về đồng bằng có thể thấp hơn 15-20% so với trung bình nhiều năm. Ranh mặn 4g/lít tại các cửa sông Cửu Long được dự báo xâm nhập sâu 50-70km, sâu hơn từ 7-13km so với trung bình nhiều năm; tại các cửa sông Vàm Cỏ, ranh mặn có thể vào sâu 110-130km. Đối với cây ăn trái lâu năm, hạn hán và xâm nhập mặn có thể gây ra các tác động, như: giảm khả năng hấp thu nước và dinh dưỡng, gây suy giảm sinh trưởng, rụng lá, rụng hoa và trái non; gây tổn thương bộ rễ và làm giảm khả năng phục hồi của cây; làm tăng chi phí tưới, chi phí trữ nước và quản lý vườn; tăng nguy cơ cây suy kiệt, chết cành hoặc chết cây tại những vùng thiếu nguồn nước ngọt kéo dài...

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, dự báo: Đối với vùng sản xuất cây ăn trái ĐBSCL có khoảng 45.000ha ảnh hưởng tại các vùng ven biển, nguy cơ thiếu nước tưới trong mùa khô, khi xâm nhập mặn vào sâu, nhất là đối với một số cây ăn trái mẫn cảm với mặn như sầu riêng ở TP Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp…

Ông Dương Đức Huy nhấn mạnh: “Thời gian tới, ngành Nông nghiệp các tỉnh, thành vùng ĐBSCL cần theo dõi chặt thời tiết, nguồn nước, sinh vật gây hại; tăng đầu tư chăm sóc, tưới tiết kiệm, rải vụ đối với cây ăn trái và điều tiết thu hoạch phù hợp, theo thị trường. Chủ động củng cố hệ thống đê bao, cống ngăn mặn; nạo vét kênh mương, ao, hồ và các công trình trữ nước; tăng cường tích trữ nước ngọt trong mùa mưa. Các địa phương cần kiểm tra độ mặn trước khi tưới; áp dụng tưới tiết kiệm, tủ gốc và các biện pháp giữ ẩm. Thời gian hạn, mặn xuất hiện cần chú ý không trồng mới hoặc xử lý ra hoa nghịch vụ khi chưa bảo đảm nguồn nước ngọt”.

Kết quả đánh giá thực tế của Viện Cây ăn quả miền Nam qua các đợt hạn mặn lịch sử năm 2015-2016 và 2019-2020, mức độ mẫn cảm với mặn khác nhau rõ rệt giữa các nhóm cây. Nhóm mẫn cảm với mặn (<1‰) gồm sầu riêng, chôm chôm, bòn bon, măng cụt, bơ, chuối, khế, nhãn, đu đủ và chanh dây; nhóm chịu mặn trung bình (1-2‰) gồm cây có múi, ổi, khóm, vú sữa, thanh long, sơ ri và ca cao; nhóm chịu mặn khá (3-4‰) gồm mít, xoài, mãng cầu xiêm và na; dừa, sapô, me và một số giống nho có khả năng chịu mặn tốt hơn ở mức 5-6‰. Các mức này là cơ sở tham khảo để phân nhóm nguy cơ, không nên hiểu là ngưỡng tưới an toàn tuyệt đối vì mức độ thiệt hại còn phụ thuộc giống, tuổi cây, giai đoạn sinh trưởng, thời gian tiếp xúc và điều kiện đất - nước...

Bài, ảnh: HÀ VĂN

Chia sẻ bài viết