20/04/2012 - 22:41

Doanh nghiệp chờ tín hiệu thị trường

Doanh nghiệp (DN) thiếu vốn sản xuất, hàng tồn kho lớn, do thị trường tiêu thụ sụt giảm mạnh. Vay vốn ngân hàng để cầm cự lại càng lún sâu vào “hố nợ”, bởi đầu ra sản phẩm đang “tắc”, DN bị thâm dụng vốn, kinh doanh không sinh lời trong khi phải trả chi phí vốn quá cao. Từ 11-4, trần lãi suất huy động về mức 12%/năm, lãi suất cho vay vẫn phổ biến ở mức 17-22%/năm, rất ít DN tiếp cận được vốn vay với lãi suất ưu đãi 14-17%/năm. Hiện nay, rất nhiều ngân hàng thương mại cổ phần lớn công bố hạ lãi suất cho vay sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp, nông thôn ở mức 14,5-17%/năm với tổng mức vốn lên đến hàng ngàn tỉ đồng. Song, vấn đề là DN có mạo hiểm vay vốn thời điểm này không. Các chuyên gia kinh tế cho rằng, DN chỉ vay khi sản phẩm của họ làm ra có thị trường và DN có khả năng trả nợ. Còn hầu hết DN đều không dám mạo hiểm với mức lãi suất hiện tại. Bởi chính sách hạ trần lãi suất để kéo giảm đầu ra của lãi suất cho vay cần độ trễ ít nhất 6 tháng nữa, DN mới được hưởng lãi suất ưu đãi.

Trên thực tế, hàng ngàn DN đang trên bờ vực phá sản, nhưng chính sách “giải cứu” DN của Nhà nước luôn có độ trễ. Vốn cho DN là câu chuyện dài và cần nhiều thời gian, nhiều giải pháp để gỡ. Các chuyên gia cho rằng, trước mắt phải nhanh chóng đưa ra giải pháp để giải phóng lượng hàng tồn kho trong DN ngay lúc này, để DN thu hồi vốn và tái sản xuất. Bởi thời điểm này DN có vay được vốn cũng không có ý nghĩa gì khi lượng hàng hóa làm ra không bán được. DN xuất khẩu gặp khó ở thị trường xuất khẩu đã quay về “sân nhà” lại thua ngay trên sân nhà do cuộc canh tranh cũng không kém phần khốc liệt với hàng ngoại nhập lợi thế về mẫu mã, giá rẻ.

Xuất phát điểm thấp, DN đa phần có qui mô vừa và nhỏ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn. Vốn hạn chế, nên khi gia nhập thị trường, các DN đều chọn con đường đi dễ nhất- kinh doanh những sản phẩm, hàng hóa mà thị trường hiện tại đang cần để thu hồi vốn nhanh nhất. Với kiểu kinh doanh “mua đứt, bán đoạn” mà không có cuộc khảo sát chính thống nào về nhu cầu thị trường, thị hiếu tiêu dùng khiến DN trở tay không kịp khi thị trường biến động. Từ thực tế này cho thấy, khâu phân phối và thiết lập hệ thống phân phối nối dài từ khâu sản xuất đến tiêu thụ không phải DN nào cũng làm được khi đa phần có qui mô nhỏ, năng lực quản lý, tài chính hạn chế. Đó là chưa nói đến chuyện xây dựng thương hiệu, dù biết rằng DN có thương hiệu, sản phẩm sẽ có đầu ra thuận lợi hơn. Tuy nhiên, theo lãnh đạo một DN chế biến thủy sản cho rằng, DN xây dựng thương hiệu đã khó, giữ thương hiệu càng khó hơn. Bởi DN có thương hiệu phải đi bằng con đường chính để gia nhập thị trường, trong khi không ít DN không có thương hiệu luôn tìm cách phá vỡ qui tắc thị trường. Tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh vẫn diễn ra, một số DN hạ giá bán sản phẩm, khiến việc giữ gìn thương hiệu sản phẩm, giữ thị trường đầy gian nan. Trong thời điểm khó khăn này, liên kết giữa các DN để tìm giải pháp tối ưu nhất, giải quyết bài toán đầu ra trở nên cấp thiết.

SONG NGUYÊN

Chia sẻ bài viết