(Tiếp theo kỳ trước)
Thực hiện tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại, gia trại, duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao; tổ chức lại sản xuất theo các chuỗi liên kết các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.
Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại trong chăn nuôi. Tăng cường công tác quản lý chất lượng giống; chọn lọc, cải tiến, nâng cao năng suất, chất lượng các giống gia súc, gia cầm địa phương có nguồn gen quý; nhập nội các giống heo, gia cầm cao sản trong nước chưa có hoặc còn thiếu.
Hướng dẫn, hỗ trợ xây dựng các mô hình chăn nuôi có hiệu quả, bền vững và an toàn sinh học. Hướng dẫn, chuyển giao những kỹ thuật mới về chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý,
đảm bảo an toàn sinh học, vệ sinh phòng bệnh và xử lý môi trường. Áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, thực hành chăn nuôi tốt (VietGAP) đối với các cơ sở chăn nuôi.
Chủ động tổ chức và nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn dịch tễ đàn gia súc, gia cầm và các vật nuôi khác. Xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh, nhất là những vùng có các cơ sở sản xuất giống và vùng chăn nuôi lớn, tập trung. Phối hợp với các tỉnh, thành phố trong công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm soát nguồn gia súc, gia cầm và các sản phẩm chế biến cung cấp cho thành phố.
Phát triển sản xuất thủy sản theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sản phẩm giá trị gia tăng: áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn thực phẩm trong nuôi thủy sản phục vụ xuất khẩu (51,42 ha cá tra đạt chứng nhận theo các tiêu chuẩn như ASC, GlobalGAP, BAP, VietGAP, GlobalGAP; 066 ha cá rô phi đạt chứng nhận ASC; 1,25 ha cá lóc đạt chứng nhận VietGap,
) và phát triển thủy sản theo hình thức hợp tác sản xuất đẩy mạnh liên kết bốn nhà trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm, nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất thành công trên nhiều đối tượng nuôi như: cá tra (hợp tác xã là Thới An và Thắng Lợi), lươn (Tổ Hợp tác nuôi lươn Vĩnh Trinh, Hợp tác xã Phúc Lộc Hòa ở Cờ Đỏ). Các doanh nghiệp chế biến đầu tư cho các hộ nuôi gia công (Công ty Sao Mai, Hùng Vương, Agrifish,
) nhằm khép kín quy trình sản xuất và tăng lợi nhuận cho người nuôi.
Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện đề án tái cơ cấu trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, phát triển thủy sản theo hướng bền vững, nâng cao sản phẩm giá trị gia tăng như:
- Nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá thát lát góp phần đảm bảo nguồn giống và mở rộng đối tượng nuôi có giá trị. Nuôi thát lát trong ao, vèo hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp cho lợi nhuận khoảng 79 triệu đồng/1.000m2/vụ; với hiệu quả cao và chủ động thức ăn. Hiện nay, mô hình này được nhân rộng trên các quận, huyện như: Thốt Nốt, Ô Môn, Bình Thủy và Phong Điền.
- Đưa lươn sinh sản nhân tạo vào nuôi thương phẩm, cải tiến mô hình nuôi lươn từ có bùn sang không bùn và thay vào đó là sử dụng con giống nhân tạo thay thế giống thu gom ngoài tự nhiên thiếu chất lượng, người nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp trong suốt quá trình; đảm bảo lươn giống cho hộ nuôi và phát triển thủy đặc sản trên địa bàn. Hiện nay, mô hình này được nhân rộng trên các huyện như Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Phong Điền, quận Thốt Nốt.
- Nghiên cứu nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp, với lợi nhuận đạt từ 5-10 triệu đồng/m2 vèo. Mô hình nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp được phát triển tại các huyện: Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền.
Đưa các đối tượng thủy sản có giá trị cao vào sản xuất nhằm đa dạng các đối tượng nuôi trên địa bàn như: sinh sản nhân tạo cá chạch lấu và nuôi thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trên diện tích rộng; nuôi cá cảnh có giá trị cho các vùng đô thị, cận đô thị,...
Tăng cường tập huấn kỹ thuật nuôi, tập huấn kiến thức về an toàn thực phẩm cho người dân; triển khai các chương trình dự án nuôi trồng trồng thủy sản đạt hiệu quả.