(TTXVN)- Tiếp tục Kỳ họp thứ 2, sáng 18-11, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường, thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Đường sắt (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.
Cho ý kiến về dự án Luật Đường sắt (sửa đổi), các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật, bởi những tồn tại, bất cập trong thời gian dài của ngành, nhất là kết cấu hạ tầng đường sắt lạc hậu, xuống cấp, phần lớn đầu tư từ hơn trăm năm trước... Hệ thống đường sắt chưa được kết nối hài hòa với các loại hình giao thông khác để tạo nên một mạng lưới đồng bộ. Tỷ trọng đầu tư cho hạ tầng ngành đường sắt so với các loại hình giao thông khác là rất thấp. Các đại biểu cho rằng, việc sửa đổi Luật Đường sắt nhằm đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 13-NQ/TW (khóa XI) về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho đầu tư, tổ chức quản lý, khai thác và phát triển giao thông vận tải đường sắt theo hướng hiện đại, đưa đường sắt Việt Nam phát triển giữ vị trí của một ngành kinh tế quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, một số ý kiến băn khoăn về chất lượng và tính khả thi của dự án Luật. Việc sửa đổi Luật Đường sắt cần bảo đảm nội dung tốt hơn, có thể số chương, điều ít hơn nhưng phải chi tiết hơn, cụ thể hơn, chất lượng hơn chứ không nên quay lại luật khung, luật ống. Nghiên cứu dự án luật, chất lượng và tính khả thi của Luật sửa đổi là rất thấp, do việc bỏ một số nội dung cụ thể, mang tính chi tiết, nhiều nội dung giao cho Chính phủ, các bộ, ngành ban hành Nghị định, thông tư để cụ thể hóa, dẫn đến những quy định của dự thảo luật không còn tính quy phạm pháp luật. Cụ thể, Luật Đường sắt 2005 cũ có 18/118 điều phải chờ Nghị định, Thông tư hướng dẫn, trong khi Luật sửa đổi có tới 37/95 điều phải chờ Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải hướng dẫn. Bên cạnh đó có thêm 20 điều trong dự án có nội dung dẫn chiếu "theo quy định của pháp luật'' là không rõ ràng, thiếu minh bạch. Bên cạnh đó, tại một số chương, quy định về quy hoạch phát triển giao thông đường sắt; trách nhiệm của tổ chức cá nhân khi để xảy ra tai nạn đường sắt; trách nhiệm nhân viên đường sắt trực tiếp chạy tàu... không có hoặc quy định còn sơ sài.
Giải trình về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của Luật Đường sắt, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa khẳng định sẽ ghi nhận, tiếp thu, từ đó cùng các cơ quan thẩm tra, xem xét quyết định những vẫn đề mà đại biểu quan tâm; đặc biệt là làm rõ thêm thẩm quyền quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với đường sắt; hoạt động kinh doanh đường sắt, thuế đất giành cho đường sắt, điều hành giao thông vận tải; phí và giá trong hoạt động kinh doanh đường sắt và những điều khoản chuyển tiếp từ Luật. Ban soạn thảo sẽ tiếp tục phối hợp cơ quan thẩm tra của Quốc hội nghiên cứu thấu đáo và làm rõ hơn các quy định nhằm tạo đồng thuận cao trước khi trình Quốc hội.
Cũng tại phiên thảo luận, đa số các đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam, nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực du lịch, như thu hút đầu tư, cải cách hành chính theo lộ trình Chính phủ điện tử.
Giải trình thêm về nội dung Nghị quyết, Bộ trưởng Công an Tô Lâm cho biết: Bộ Công an đã gửi báo cáo về một số vấn đề liên quan đến dự thảo Nghị quyết để các đại biểu Quốc hội xem xét. Theo đó, thực hiện quy trình cấp thị thực điện tử, Bộ Công an vẫn thực hiện việc xét duyệt nhân sự chủ động hơn. Một trong những biện pháp quản lý người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam bằng thị thực điện tử khi chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam bảo lãnh là việc quy định thị thực điện tử không quá 30 ngày, có giá trị không quá 2 năm. Trong thời gian thực hiện thị thực điện tử ở Việt Nam 30 ngày, nếu có các cơ quan bảo lãnh, vẫn thực hiện theo quy định của Luật xuất nhập cảnh cư trú và đi lại của người nước ngoài ở Việt Nam. Trước đây, Luật không cho những người nước ngoài đó vào Việt Nam, nhằm thay đổi mục tiêu, sự điều chỉnh này cần thiết phải ban hành Nghị quyết.
Việc ban hành Nghị quyết này khắc phục Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, trường hợp người nước ngoài có mong muốn vào Việt Nam nhưng không có tổ chức, cá nhân bảo lãnh, hoặc không quy định việc khai cấp thị thực điện tử vì hiện nay theo yêu cầu của đối xử đối đẳng ngoại giao với một số nước, Chính phủ đã trình Quốc hội cho kéo dài thời gian hơn so với Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài ở Việt Nam.
Về an ninh an toàn mạng, để triển khai việc cấp thị thực điện tử, hệ thống trong đã được thực hiện từ nhiều năm nay, sẽ tiếp tục kiểm soát để bảo đảm an ninh an toàn. Việc xây dựng hệ thống hóa về cơ bản đã chủ động để bảo đảm triển khai từ 1-1-2017. Bộ Công an đã thực hiện áp dụng rất nhiều luật giao dịch điện tử. Về cơ sở hạ tầng, để bảo đảm tính khả thi của Nghị quyết được thông qua, đề nghị Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết các cửa khẩu cho phép người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh bằng thị thực điện tử, đảm bảo các cở hạ tầng về việc cấp, kiểm soát thị thực điện tử chặt chẽ, an toàn, thống nhất. Bản chất của việc cấp thị thực điện tử vẫn theo đúng quy trình như cũ.
Đối với quan điểm để người nước ngoài sử dụng thị thực điện tử sẽ gây khó khăn cho xử lý đối với trường hợp nhập cảnh sử dụng hộ chiếu ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia, Bộ trưởng khẳng định: Bộ dự kiến mẫu thị thực điện tử tương tự như mẫu thị thực rời, đã dự thảo mẫu trình cùng với hồ sơ của dự thảo Nghị quyết. Khi cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài vào Việt Nam, không phát sinh vấn đề gì mới so với việc cấp thị thực thông thường hiện nay. Người sử dụng hộ chiếu khác có ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia không đóng dấu cho hộ chiếu đó...
Chiều cùng ngày, với 84,58% đại biểu tán thành, chiều 18/11, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Với 9 Chương, 68 Điều, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Luật áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.