Những năm 2009-2010, thành phố chủ trương xã hội hóa đầu tư xây dựng các khu tái định cư (TĐC). Đây là chủ trương lớn, mỗi quận huyện đều phải xây dựng khu TĐC để triển khai đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông, trường học, bệnh viện và cả các công trình do Trung ương đầu tư triển khai trên địa bàn... Đến nay, nhiều địa phương đã hoàn thành dự án TĐC, nhưng lại nảy sinh bất cập: Thành phố không đủ vốn để trả tiền (bằng giá thành) cho nhà đầu tư; người dân có chịu vào ở tại các khu TĐC hay không; nhà đầu tư bị "chôn" vốn đầu tư...
Theo báo cáo của Sở Tài chính, nhu cầu TĐC cho các dự án của thành phố, Trung ương, các quận làm chủ đầu tư trên địa bàn là 5.083 nền. Trong khi đó, các khu dân cư, TĐC theo chủ trương xã hội hóa của thành phố có tổng số vốn đầu tư trên 475,3 tỉ đồng. Cụ thể, đối với một số dự án thực hiện theo các văn bản của UBND thành phố như: Khu TĐC lô 1A, 424 nền; khu TĐC Long Thạnh 2, quận Thốt Nốt, 150 nền; khu dân cư và Trung tâm hành chính huyện Vĩnh Thạnh, 150 nền; ước tính chi phí thành phố phải trả cho các đơn vị làm chủ đầu tư hơn 158,2 tỉ đồng (giá thành 3,3 triệu đồng/m2). Đối với các dự án TĐC thực hiện theo Quyết định số 11/QĐ-UBND (ngày 2-2-2010), như: Khu TĐC Trường Đại học Y Dược (246 nền); khu TĐC Cửu Long (40.000m2); khu TĐC phường Thường Thạnh (365 nền); ước tính chi phí phải trả hơn 284,8 tỉ đồng. Về chủ trương mua nền để bố trí TĐC ở các dự án Công ty Hồng Loan (dự kiến 200 nền); khu dân cư An Thới (dự kiến mua 29 nền); tổng kinh phí hơn 62 tỉ đồng. Như vậy, tổng kinh phí chi trả cho việc mua nền TĐC của toàn thành phố hiện nay cần hơn 506 tỉ đồng, với tổng số nền hơn 1.373 nền và 40.000m2 đất ở (chưa phân nền).
Về lý thuyết, nếu có trong tay số lô nền này, thành phố sẽ giải quyết được TĐC cho các công trình dự án khá thuận lợi. Nhưng bất cập ở chỗ: Nguồn ngân sách nào để chi trả số tiền này cho các nhà đầu tư? Liệu khi thành phố "ôm" hết số nền này, người dân có chịu vào ở, bởi các khu TĐC có phù hợp với nhu cầu người dân? Nhà đầu tư theo hình thức xã hội hóa, nếu không nhận được số tiền này sẽ gặp khó khăn...
Tại cuộc họp do UBND thành phố tổ chức mới đây về việc tìm nguồn kinh phí thanh toán cho các dự án TĐC theo chủ trương xã hội hóa, ông Dương Tấn Hiển, Phó Giám đố Sở Tài nguyên Môi trường TP Cần Thơ, phát biểu: Trước đây, số hộ dân được bố trí TĐC chỉ có khoảng 30% số hộ xây nhà ở, còn lại là bán nền TĐC đi nơi khác sinh sống. Gần đây, tỷ lệ này tăng lên 40%, số còn lại cũng bán hoặc để đất trống. Ngoài ra, chủ trương chung là xem xét cho hộ TĐC được nợ tiền cơ sở hạ tầng 5 năm nếu họ có đơn xin chậm nộp số tiền này. Như vậy, khi thành phố phải bỏ ra một khoản kinh phí lớn để đầu tư TĐC, mà mục đích sử dụng không được phát huy hiệu quả, thì cần phải xem xét lại để có cách làm hiệu quả hơn. Có thể kiến nghị Trung ương ứng cho thành phố khoảng tiền này (chủ trương xã hội hóa đầu tư TĐC do Trung ương ban hành); phía người dân TĐC, nên chăng chỉ cho nợ phần chênh lệch số tiền cơ sở hạ tầng phải nộp sau khi nhận tiền đền bù, như vậy thành phố mới giảm gánh nặng đầu tư TĐC...
Phó Chủ tịch UBND thành phố Võ Thành Thống, cho rằng giải quyết tốt nhu cầu TĐC sẽ giúp thành phố thực hiện đúng kế hoạch, tiến độ các công trình dự án do địa phương và Trung ương đầu tư, nhưng số tiền dành để chi trả cho TĐC nêu trên là rất lớn, trong khi nguồn thu ngân sách của thành phố có hạn. Do đó, để giải quyết vấn đề này, trước mắt UBND thành phố giao các sở ngành trực tiếp liên quan rà soát dự án đã thực hiện và thực hiện trong năm 2014 để xác định nhu cầu TĐC tại thời điểm này. Đồng thời, rà soát tất cả nhà đầu tư dự án khu dân cư đô thị mới phải nộp 5% và 10% quỹ đất lại cho thành phố là bao nhiêu để cân đối số nền TĐC cần mua phù hợp với nhu cầu.
Những đề xuất trên có thể giải quyết được vấn đề trước mắt, còn nhìn xa hơn vẫn thấy những bất cập về nguồn tiền để trả cho các nhà đầu tư dự án theo chủ trương xã hội hóa; người dân có chịu vào ở tại các khu TĐC không hay thành phố phải "ôm" nền TĐC; nhà đầu tư sẽ ra sao khi bị "chôn" vốn... Làm sao giải quyết hài hòa những bất cập này vẫn là câu hỏi khó.
An Khánh