Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 9-8, Quốc hội thảo luận ở hội trường. Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, đã có góp ý quan trọng cho dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Đại biểu Phạm Thị Minh Huệ thống nhất với dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) và Báo cáo tiếp thu, giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo. Tuy nhiên, để hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu góp ý các nội dung sau:
Thứ nhất, về Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã tại Điều 7 của dự thảo. Đề nghị dự thảo Luật quy định thống nhất, bắt buộc việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã. Vì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không phải nhiệm vụ của riêng 1 cơ quan mà là nhiệm vụ liên ngành, cần có sự phối hợp của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan có liên quan. Trong khi đó, sau khi tổ chức lại đơn vị hành chính, quy mô địa bàn, dân cư và nhiệm vụ của chính quyền cấp xã đều tăng lên, yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở cũng ngày càng lớn. Thực tế, mặc dù Luật hiện hành chưa bắt buộc thành lập Hội đồng ở cấp xã, nhưng đến ngày 31-7-2026 đã có 1.318/3.321 đơn vị cấp xã thành lập Hội đồng. Điều này cho thấy đây không còn là nhu cầu mang tính cá biệt mà đã hình thành một mô hình phối hợp trên thực tế. Điểm quan trọng là những nơi đã thành lập Hội đồng cho thấy hiệu quả rõ hơn trong phân công, điều phối và huy động các lực lượng của hệ thống chính trị tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
Vì vậy, đề nghị tại khoản 4, Điều 7 được chỉnh lý thay vì “có thể thành lập” theo hướng bắt buộc quy định phải thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã để bảo đảm thống nhất với Trung ương và cấp tỉnh.
Tuy nhiên, để tránh làm phát sinh thêm tổ chức, biên chế và chi phí, đề nghị quy định rõ: Hội đồng các cấp hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, không làm phát sinh biên chế, bộ máy; giao Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần và phương thức hoạt động. Như vậy, vừa bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở cơ sở mà không làm tăng bộ máy tổ chức, biên chế và chi phí hành chính.

Đại biểu Phạm Thị Minh Huệ góp ý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Thứ hai, Điều 9 dự thảo Luật gồm 7 khoản quy định về các hành vi bị nghiêm cấm là cần thiết. Tuy nhiên đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát nghiên cứu đối với hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 6 dự thảo “Không thực hiện đúng trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách theo quy định của pháp luật”. Vì việc quy định “Không thực hiện đúng trách nhiệm” là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm được giao. Trong thực tiễn, việc không thực hiện đúng trách nhiệm này có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan như: thiếu cơ sở vật chất, kinh phí, nguồn nhân lực thực hiện tuyên truyền, phổ biến hạn chế...
Do đó, nếu quy định như dự thảo mọi trường hợp không thực hiện đúng trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách theo quy định pháp luật đều là hành vi bị nghiêm cấm thì phạm vi quá rộng, khó xác định mức độ vi phạm và dễ dẫn đến cách hiểu, áp dụng không thống nhất khi Luật được thông qua và có hiệu lực.
Bên cạnh đó, tại Chương III dự thảo Luật đã quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy, trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm thì cần xem xét, xử lý trách nhiệm tương ứng, đảm bảo phù hợp với mức độ và nguyên nhân của việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; tránh việc quy định trùng lặp giữa Điều 9 với các quy định về trách nhiệm tại Chương III dự thảo.
Từ các phân tích trên, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát xem xét không quy định nội dung khoản 6, Điều 9 dự thảo là hành vi cấm. Xem xét bổ sung quy định về xử lý trách nhiệm đối với việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách vào Chương III dự thảo để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của Luật.
Thứ ba, về truyền thông chính sách tại Mục 4, Chương II. Đại biểu nhất trí với việc bổ sung chế định truyền thông chính sách vào dự thảo Luật. Đây là một trong những điểm mới sát thực tiễn của dự án Luật lần này. Nhưng thực tế cho thấy, nếu người dân, doanh nghiệp chỉ được tiếp cận chính sách sau khi văn bản đã được ban hành thì sẽ khó tạo sự đồng thuận và cũng khó phát hiện kịp thời những vấn đề còn bất cập trong quá trình xây dựng chính sách. Do đó, truyền thông chính sách phải được thực hiện từ sớm, từ xa, giúp người dân hiểu được nội dung, mục tiêu, tác động của chính sách và có điều kiện tham gia góp ý ngay từ quá trình xây dựng. Việc luật hóa nội dung này cũng là bước tiếp nối quá trình thực hiện Quyết định số 407/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội. Qua thực tiễn triển khai, việc gắn truyền thông chính sách với phổ biến, giáo dục pháp luật đã bước đầu phát huy hiệu quả. Do đó, đề nghị giữ quy định về truyền thông chính sách trong dự thảo; đồng thời, tiếp tục làm rõ về mục đích, nguyên tắc, nội dung, hình thức và trách nhiệm thực hiện, nhất là tăng cường ứng dụng công nghệ số, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và các tổ chức có liên quan.
Đại biểu cũng đồng tình với việc xác định rõ truyền thông chính sách trong Luật này không thay thế và không trùng lặp với quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, mà bổ trợ cho quá trình đó, tạo kênh thông tin tương tác 2 chiều giữa cơ quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp và xã hội.
Thứ tư, về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù và nguồn lực tại Điều 16 và khoản 3, Điều 36. Bảo đảm tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Đại biểu thống nhất với dự thảo về việc ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các đối tượng đặc thù, yếu thế, phù hợp với quan điểm lấy người dân làm trung tâm và bảo đảm nguyên tắc không để ai bị bỏ lại phía sau. Tuy nhiên, đề nghị tại khoản 3 Điều 36 cần quy định cụ thể hơn nội dung “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho các đối tượng đặc thù”.
Theo đại biểu, nếu chỉ quy định về nguyên tắc mà không xác định rõ hơn yêu cầu về nguồn lực thì khi triển khai tại bộ, ngành và địa phương có thể tiếp tục gặp khó khăn, nhất là đối với những nhóm cần được hỗ trợ nhiều hơn về phương thức, điều kiện và kinh phí tiếp cận pháp luật. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, thể hiện rõ hơn nguyên tắc ưu tiên nguồn lực trong Điều 36, đồng thời tạo cơ sở pháp lý đủ cụ thể để Chính phủ quy định chi tiết và để địa phương có căn cứ tổ chức thực hiện thống nhất.
Từ 3 nội dung trên, đại biểu cho rằng việc sửa đổi Luật lần này cần hướng tới một yêu cầu xuyên suốt: pháp luật không chỉ được ban hành đúng mà phải được người dân biết, hiểu, tham gia và thực hiện có hiệu quả. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến, đặc biệt là hoàn thiện cơ chế phối hợp ở cấp xã, luật hóa và nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách, đồng thời bảo đảm nguồn lực phù hợp cho các đối tượng đặc thù.
PV