25/05/2020 - 06:02

PGS. TS Lê Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Biến đổi khí hậu - Trường Đại học Cần Thơ

“Giữ nước trời và nước mặt cho vùng ĐBSCL…” 

Sau những chuyến đi thực địa khảo sát vùng ĐBSCL, PGS.TS Lê Anh Tuấn- Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu (BĐKH) - Trường Đại học Cần Thơ trao đổi về các giải pháp căn cơ, cấp thiết. Thích ứng BĐKH nếu dựa trên nguồn nước từ thiên nhiên: Nước mặt (từ nguồn sông Mekong), nước trời (mưa) và nước ngầm, việc khai thác sử dụng như thế nào hợp lý, hiệu quả?

* Mùa hạn mặn năm nay nguồn cấp nước mặt từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL rất ít, chỉ còn trông chờ vào nước ngầm. Ông có cảnh báo gì xoay quanh bất cập này?

- Ở độ sâu 200m, ĐBSCL có những vỉa nước có thể cung cấp các mạch nước tốt. Tuy nhiên, nguồn nước ngầm ở độ sâu này là do quá trình hình thành địa chất thủy văn khu vực hàng ngàn năm mới có. Việc bổ sung nước từ tầng đất mặt xuống độ sâu này rất ít, gần như không có vì nước phải qua hàng chục mét lớp sét dày, khó xuyên thấm.

Khai thác nước ngầm ở độ sâu như vậy là “ăn” vào tài nguyên hàng ngàn năm. Khi việc hạ thấp mực nước ngầm xảy ra liên tục do khai thác quá lớn sẽ làm mặt đất tự nhiên “lún” dần, không thể phục hồi cao độ cũ, kể cả trong trường hợp ngưng khai thác hoàn toàn.

Ý tưởng, bổ cập nhân tạo bằng cách đưa nước ngọt xuống tầng ngầm bằng cách bơm nén áp lực cao sẽ tốn nhiều năng lượng và rất nguy cơ nếu nước ở tầng mặt bị ô nhiễm hóa sinh.

* Cà Mau là nơi duy nhất ở ĐBSCL không được tiếp nước trực tiếp từ Mekong, đã có ý tưởng “chuyển nước” theo đường ống, liệu phương án này có khả thi không, thưa ông?

- Các dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau chủ yếu là dùng kênh dẫn và một số nơi có thêm những trạm bơm để đưa nước đi xa. Tuy nhiên, khả năng đưa nước ngọt từ sông Hậu về Cà Mau khá hạn chế, nhất là những năm tình hình diễn biến thời tiết cực đoan, nước biển dâng theo triều cao và những yếu tố bị kiểm soát nước từ thượng nguồn.

Việc chuyển nước về Cà Mau bằng đường ống, về nguyên lý kỹ thuật thì có thể thực hiện được với sự hỗ trợ của nhiều trạm bơm công suất lớn, rất tốn hao vể năng lượng điện. Tuy nhiên, về mặt chi phí đầu tư và thêm yếu tố xã hội như phải giải tỏa nhà cửa, công trình, thu hồi đất, quản lý, bảo trì… thì không hiệu quả kinh tế và tính khả thi kém.

Người dân huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) tranh thủ lấy nước ngọt dự trữ cho sinh hoạt và tưới cho vườn cây ăn trái trong những tháng khô hạn đầu năm 2020. Ảnh: HÀ VĂN

* Hiện có nhiều công trình ngăn mặn đã và sẽ được triển khai, nhưng công trình kỳ vĩ để ngăn mặn mà nước ngọt cạn kiệt, phải chăng chương trình ngọt hóa sẽ sụp đổ?

- Từ chủ trương sản xuất thật nhiều lúa gạo trong 2-3 thập niên vừa qua, nhiều vùng ven biển đã hình thành các công trình ngăn mặn đã và đang được triển khai. Các dự án này có mục tiêu ngăn được nước mặn từ biển Đông và biển Tây xâm nhập và giữ lại nước ngọt hoặc đưa nước ngọt về để sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa. Sau này một số vùng dự án có thêm trồng màu và cây ăn trái, hoặc nuôi trồng thủy sản nhưng diện tích chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Tuy nhiên, với bối cảnh nguồn nước ngọt đưa về có xu thế giảm dần, vùng ven biển đối diện với nguy cơ sụt lún và nước biển dâng khiến mục tiêu của các chương trình ngọt hóa không còn như kỳ vọng, diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp không như mục tiêu đề ra. Trong khi đó, chi phí duy tu và bảo dưỡng vẫn phải chi trả mà giá lúa trên thị trường rất bấp bênh, giá phân bón và các loại nông dược tăng lên nên hiệu quả kinh tế rất thấp. Ngoài ra, sự tổn hại môi trường, suy giảm tài nguyên và thu hẹp tính đa dạng sinh học rất lớn. Nếu tính cả vốn xây dựng ban đầu và chi phí hàng năm thì có một số công trình bị cho là lỗ về đầu tư, xét trên các mặt.

* Từ đầu năm nay dịch bệnh COVID-19 diễn ra trên phạm vi toàn cầu, nhu cầu tích trữ lương thực từ các nước gia tăng. Việt Nam là cường quốc lúa gạo, theo ông cần thay đổi nhận thức và hành động theo hướng nào để việc sản xuất lương thực thật sự đóng góp nhiều hơn nữa vào nền kinh tế quốc gia?

- Hiện nay, trong tình hình dịch bệnh và có những bất ổn thời tiết, nhiều quốc gia tăng cường tích trữ lương thực khiến giá gạo và các nông sản khác gia tăng trên thị trường quốc tế. Đây là một cơ hội cho Việt Nam trong việc xuất cảng nông sản. Việt Nam không phải là quốc gia bị đe doạ lớn về an ninh lương thực nhờ tiềm năng sản xuất lúa và các nông sản khác cao. Tuy nhiên, về mặt vĩ mô, Việt Nam phải đánh giá đúng khả năng quốc gia về tồn trữ nông sản ở kỹ thuật và chất lượng cao, giảm thất thoát tối đa. Lượng lương thực dự trữ phải đủ để ít nhất 4-6 tháng có thể cung cấp cho toàn dân trong khi chờ đợi các vụ canh tác khác nhau, kể cả trường hợp mất mùa nặng nề.

Theo tôi, ở Việt Nam ngoài khái niệm an ninh lương thực (ANLT), cần chú ý đến “an toàn lương thực” vì đây là vấn đề sức khỏe của nhân dân và uy tín quốc gia trên thị trường lương thực- thực phẩm quốc tế. Ngành nông nghiệp muốn gia tăng khả năng đóng góp về kinh tế quốc dân, không nên chạy theo số lượng xuất khẩu nông sản thô mà cần chú ý đến cách thức làm gia tăng giá trị kinh tế của hàng nông sản qua chất lượng ngon, an toàn và đa dạng trong chế biến.

* Như vậy dù thế nào ĐBSCL vẫn phải gánh trọng trách làm ra lúa gạo vì ANLT. Nhưng trong canh tác lúa, để có 1kg gạo cần nhiều nước (4.000-5.000 lít nước) và khi nguồn nước ngọt không còn là tài nguyên vô tận?

- Trong bối cảnh nguồn nước ngọt ngày một giới hạn và trở nên quý giá trong mùa khô hạn, việc xuất cảng gạo nhìn sâu xa hơn chẳng khác nào xuất cảng tài nguyên nước và một phần các tài nguyên khác: đất, sinh vật và sức lao động. Lúa gạo là loại nông sản tiêu thụ nhiều nước, tăng cường trồng lúa (và các nông sản khác) có nghĩa là tăng cường khai thác nguồn nước cho một “trọng trách vì an ninh lương thực”. Nếu chỉ đơn thuần là ANLT cho nội địa thì hoàn toàn chính đáng, nhưng khái niệm này khó thuyết phục hơn khi nói ANLT cho thế giới, vì trong thực tế, không có nước nào yêu cầu chúng ta gánh trọng trách này).

Canh tác quá nhiều lúa gạo để xuất khẩu thì vô hình trung chúng ta làm ảnh hưởng đến nguy cơ khác là mất “an ninh nguồn nước”, “an ninh môi trường”, “an ninh sinh thái” và kể cả “an ninh xã hội”. Nguy cơ mất “an ninh” các lĩnh vực này cũng là một hiểm họa vùng hay quốc gia.

* Để hướng tới cách làm căn cơ trong ngành lúa gạo và phát huy nguồn lực từ tư duy đa canh để phục hồi sinh kế, kinh tế- xã hội, như vậy bằng cách nào giữ nước ngọt đảm bảo cho vùng canh tác lúa ổn định, bền vững, thưa ông?

- Vùng ĐBSCL vẫn mãi là vùng sản xuất lương thực và thực phẩm (nông nghiệp và thủy sản) lớn nhất cả nước. Canh tác nông nghiệp, đặc biệt là lúa, phải cần nước ngọt, dù vài nơi có những giống lúa có thể trồng trên vùng nước lợ ven biển vào mùa mưa. Về thủy sản thì đa dạng hơn, có thể nuôi trồng trên 3 vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn khác nhau.

Để có những vùng trồng lúa ổn định và bền vững thì cần đánh giá và cân đối giữa tiềm năng cung cấp tài nguyên nước ngọt và giá trị kinh tế. Nước ngọt cho trồng lúa chỉ có nước mưa và nước sông Mekong cung cấp, nhiều nhất từ mùa mưa. Không thể khai thác nước ngầm cho việc trồng lúa.

Do vậy cần thiết phải giữ 2 nguồn nước trời và nước mặt. Trước tiên là phải từng bước phục hồi các vùng trũng tự nhiên để tạo vùng hấp thu nước (water absorption) và trữ nước (water retention) ở vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, các khu bảo tồn đất ngập nước: Tràm Chim, Láng Sen, Tỉnh Đội, Lung Ngọc Hoàng, U Minh Thượng, U Minh Hạ,… Ở các vùng nông thôn, có hàng trăm héc-ta đất lung, bào, ao, đìa, búng,... các mương vườn ao vườn đều có thể trữ nước ngọt. Các vùng giồng cát ven biển là nơi trữ nước mưa trong lớp đất mặt rất quý giá cho mùa khô. Ngoài ra, còn nhiều cách khác để thu giữ nước mưa ở quy mô gia đình và cộng đồng (rainwater harvesting).

Quan trọng nhất là vấn đề sử dụng nước ngọt cần hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm.

* Xin cảm ơn PGS.TS Lê Anh Tuấn!

HỮU ĐỨC (thực hiện)

Chia sẻ bài viết