Hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã được nhiều nhà khoa học cảnh báo: ĐBSCL là vùng chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất trong khu vực Đông Nam Á cả về mặt sinh thái, hệ canh tác và cơ cấu xã hội. ĐBSCL chịu sự tác động của hai khối nước lớn là nước sông Mê Công và thủy triều của biển. Do đó, chế độ thủy văn của khu vực phức tạp, chịu ảnh hưởng đồng thời của dòng chảy thượng lưu sông Mê Công và thủy triều biển Đông, biển Tây. Trong mùa cạn, khi nước từ thượng nguồn về thấp, thủy triều xuất hiện mang nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mực nước biển có thể dâng cao dẫn đến nguy cơ một phần lớn đồng bằng sẽ bị ngập lụt và nhiễm mặn. Theo ghi nhận của các nhà khoa học từ số liệu quan trắc trong khu vực những năm gần đây cho thấy: nhiệt độ trong vùng ngày càng tăng cao, lượng nước bốc hơi tăng, nước thượng nguồn về giảm. Thêm vào đó, tốc độ đô thị hóa nhanh, khai thác sử dụng nước ngầm tràn lan và lượng phù sa ngày càng giảm ảnh hưởng đến đất lún. Hạn hán, xâm nhập mặn vào mùa khô đã và đang diễn ra ở các tỉnh khu vực ĐBSCL, như: An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Hậu Giang
 |
|
Nạo vét lại hệ thống kênh mương nội đồng là một trong những giải pháp đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trong ảnh: Nạo vét kênh Thầy Ký thuộc ấp Thầy Ký, thị trấn Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ. Ảnh: T. LONG |
Biến đổi khí hậu với 2 biểu hiện dự báo được là nhiệt độ trung bình của khí quyển tăng lên, nước biển dâng và những biểu hiện không dự báo được, như: giông lốc, hạn hán, ngập lụt..., sẽ mang nhiều tác động đến tình hình tự nhiên và môi trường sinh thái toàn cầu. Đặc biệt nghiêm trọng với các vùng đất thấp như ĐBSCL. Ông Kỷ Quang Vinh, Chánh Văn phòng Biến đổi khí hậu TP Cần Thơ, phân tích: Trong mùa khô, ảnh hưởng của nhiệt độ trung bình ngày càng tăng sẽ làm nhu cầu nước tiêu dùng và nhất là nhu cầu nước tưới cho cây trồng tăng lên. Trong khi nước từ thượng nguồn đổ về không nhiều kết hợp với mực nước biển ngày càng dâng cao làm khả năng xâm nhập mặn sâu vào đất liền là điều có thể dự báo được. Theo báo cáo đánh giá của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu Quốc tế (IPCC, 2014), trong tương lai lượng mưa trên lưu vực sông Mê Công sẽ không tăng, thậm chí giảm, thêm vào đó là tình hình mặt đất của khu vực bị lún xuống thì khả năng xâm nhập mặn thêm phức tạp.
Trước thực trạng trên, Chính phủ ban hành nhiều chính sách, chương trình hành động, dự án ứng phó với diễn biến của biến đổi khí hậu đến vùng ĐBSCL nhằm đảm bảo ổn định đời sống và sản xuất. Cụ thể, trong danh mục 62 dự án ưu tiên cấp bách nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu đã được Thủ tướng Chính phủ duyệt có đến 17 dự án của 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL. Các dự án này tập trung vào việc củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống đê, kè sông, kè biển, hệ thống công trình thủy lợi nhằm điều tiết lũ, ngăn mặn, giữ ngọt; hệ thống cung cấp nước ngọt tại những vùng khô hạn và nhiễm mặn với phạm vi các công trình trải rộng trên cả vùng ĐBSCL. Điển hình là các dự án xây dựng nâng cấp đê biển Tây tỉnh Cà Mau; công trình cống sông Kiên, thành phố Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang); nâng cấp đê biển, xây dựng đê bao chống ngập úng vùng trũng, xây dựng hệ thống ngăn mặn cho tỉnh Sóc Trăng... Nhằm giảm thiệt hại cho người dân trong sản xuất trước tình trạng thiếu nước ngọt, các địa phương trong khu vực cũng đã lên kế hoạch ngăn mặn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nạo vét lại hệ thống kênh mương nội đồng; cung cấp các lu, khạp cho người dân dự trữ nước ngọt... Qua đó có thể thấy rằng, chính quyền các cấp đã và đang đặt hạn hán, xâm nhập mặn trong tình trạng báo động và luôn quan tâm tìm giải pháp đối phó với tình trạng này.
Không chỉ vậy, các nhà khoa học cũng “vào cuộc” hiến kế giúp các địa phương giảm thiểu thiệt hại từ tác động của hạn, mặn. Theo ý kiến của các nhà khoa học, nằm trong vùng khí hậu gió mùa, với mùa khô ít nước nhưng mùa mưa dư thừa nước, các địa phương có thể chủ động trữ nước sử dụng cho nhu cầu trong 3 hoặc 4 tháng mùa khô. Bằng cách, nạo vét kênh mương có sẵn, hoặc nghiên cứu thực hiện các công trình trữ nước dựa vào hệ thông kênh rạch tự nhiên hiện có tại chỗ. Từ đó có thể có nước ngọt sử dụng với chi phí đầu tư rẻ, không mất thêm đất và dễ dàng quản lý, bảo trì. Đồng thời cần chủ động và chính xác hóa trong dự báo tình hình khí tượng, thủy văn; tạo nguồn trữ nước theo dạng phân tán, nghiên cứu trữ nước ngầm là những việc cần làm ngay. Về lâu dài, ông Kỷ Quang Vinh, Chánh Văn phòng Biến đổi khí hậu TP Cần Thơ, cho rằng: Nhà nước cũng cần có những thỏa thuận pháp lý với các nước trên thượng nguồn về “Qui chế bảo vệ và dùng chung tài nguyên nước sông Mê Công”. Hỗ trợ các địa phương cần nghiên cứu tình hình và dự báo mặt đất biến dạng, nhất là tại TP Cần Thơ vì thành phố nằm trong vùng đất trung tâm và trũng nhất của cả vùng. Đồng thời nghiên cứu xây hệ thống đê bao hợp lý kết hợp giao thông đường bộ và chủ động điều tiết nước, hỗ trợ giao thông thủy cũng là những việc cần nghiêm túc quan tâm thực hiện. Ngoài ra, cấp Trung ương cần nghiên cứu trữ nước vào tầng chứa nước ngầm đang bị suy kiệt là việc là vô cùng bức xúc hiện nay. Nếu có công trình thu gom nước mưa, hay nước sông vào mùa mưa, xử lý làm sạch trước khi bơm vào tầng ngầm, và cấp phép khai thác sử dụng vào mùa khô sẽ giúp có nước dùng thoải mái vào mùa khô, có kinh phí vận hành công trình, giúp chống lún và làm cho chất lượng nước tầng ngầm của chúng ta ngày càng sạch hơn!...
Nguyên Bảo
|
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa có ý kiến chỉ đạo công tác phòng, chống hạn hán, bảo đảm cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp vụ đông xuân 2014 - 2015 và hè thu, mùa năm 2015.
Phó Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Trung tâm dự báo Khí tượng - Thủy văn Trung ương theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, tăng cường dự báo, nhận định về tình hình mưa, dòng chảy (kể cả dự báo 10 ngày, tháng, mùa), cung cấp thông tin cho các cơ quan, đơn vị liên quan và các địa phương để chỉ đạo sản xuất phù hợp điều kiện nguồn nước và chủ động phòng, chống hạn, xâm nhập mặn. Bộ NN&PTNT chỉ đạo, đôn đốc các địa phương, nhất là các tỉnh khu vực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và Nam bộ thực hiện các biện pháp ứng phó hạn, xâm nhập mặn; triệt để thực hiện các biện pháp tiết kiệm nước; tính toán cân đối lại nguồn nước, trong đó cần ưu tiên bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, đối với những khu vực khó bảo đảm nguồn nước cần chỉ đạo, hướng dẫn nhân dân chuyển đổi sang loại cây trồng khác có khả năng chịu hạn, tránh thiệt hại cho sản xuất
Về lâu dài, Bộ NN&PTNT chỉ đạo rà soát lại quy hoạch sản xuất phù hợp khả năng nguồn nước từng vùng, có tính tới tác động của biến đổi khí hậu; nghiên cứu, đánh giá cụ thể nguyên nhân hạn hán, thiếu nước ở từng khu vực để đề xuất giải pháp khắc phục hạn hán, bảo đảm chủ động trong sản xuất nông nghiệp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
|