11/04/2017 - 21:55

Quyết sách phát triển vùng ĐBSCL

Bài 2: Cấp thiết giải quyết 3 vấn đề lớn

Sau 30 năm đổi mới, dù đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng sự phát triển của ĐBSCL vẫn chưa bền vững. Nguyên nhân chủ yếu do những cơ chế, chính sách nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng còn thiếu và chưa đồng bộ; có mặt chưa phù hợp với đặc điểm và yêu cầu nhiệm vụ của vùng, nhất là trong việc đảm bảo 3 yếu tố chính: đất (giữ đất lúa, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia), nước và nông nghiệp.

Tầm nhìn mới về đảm bảo an ninh lương thực

Định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020 (tại Quyết định số 939/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19-7-2012) diện tích đất trồng lúa đến năm 2020 khoảng 1,8-1,85 triệu ha và giữ vững mức xuất khẩu khoảng 6-7 triệu tấn gạo/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, quan điểm này cần được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới trong nước và quốc tế.

Sông Cần Thơ nhìn từ Bến Ninh Kiều.

Giữ một diện tích đất trồng lúa nhất định để đảm bảo an ninh lương thực trong một quốc gia khoảng 90 triệu dân là yêu cầu hợp lý trong bối cảnh thế giới vẫn đang và sẽ tiếp tục bị nguy cơ khủng hoảng lương thực đe dọa. Nhưng, vấn đề đặt ra là: thật sự cần bao nhiêu lương thực và đảm bảo an ninh lương thực theo cơ chế nào? Việc giữ ổn định xuất khẩu khoảng 6-7 triệu tấn gạo/năm có cần thiết hay không? Vì vậy, có nhất thiết phải giữ tới 3,8 triệu ha (trong đó ĐBSCL là 1,8-1,85 triệu ha) đất trồng lúa? "Tự đảm bảo lương thực tối thiểu là cần thiết cho dân số dự kiến của nước ta phát triển đến 100 triệu dân. Nhưng, với mức tiêu dùng 300kg/người/năm, kể cả dùng làm thức ăn gia súc, Việt Nam chỉ cần đảm bảo sản xuất khoảng 30 triệu tấn lương thực. Với sản lượng hiện nay, chúng ta đã đạt trên 40 triệu tấn lương thực – rõ ràng là "dư thừa" trên mức cần thiết rất lớn, tới 1/4 sản lượng"– TS Vũ Tuấn Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Việt Nam, phân tích.

Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, thời gian qua, hằng năm, các địa phương ở ĐBSCL đều có "chỉ tiêu" sản lượng lúa và việc xem tăng sản lượng này như là một thành tích phát triển. Điều này góp phần đẩy ngành lúa gạo tăng trưởng theo chiều rộng, chú trọng số lượng, ít giá trị gia tăng… và trên hết, thu nhập của người trồng lúa thường bấp bênh, không đảm bảo. Lương thực không chỉ có gạo ăn mà còn bao gồm cả các loại thực phẩm khác cho nhu cầu dinh dưỡng. Vì vậy, đảm bảo an ninh lương thực không chỉ có ngành lúa gạo phải gánh vác mà cần phải tiếp cận đa ngành. Việc đặt vấn đề giảm diện tích đất trồng lúa để chuyển sang cây trồng khác, bao gồm cả giảm lúa vụ 3 ở vùng ĐBSCL là ý kiến cần được xem xét và quyết định sớm.

Bảo vệ, phát triển và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước

Một trong những tác động đang gây ra sự lo ngại sâu sắc là tương lai của hệ sinh thái nói chung và nguồn nước sông Mekong nói riêng do việc phát triển thủy điện ồ ạt trên dòng chính. Theo Ủy ban sông Mekong Việt Nam, ở thượng nguồn sông Mekong hiện có 8 bậc thang thủy điện lớn trên dòng chính và ở hạ lưu. Các quốc gia trên dòng Mekong cũng hoạch định xây dựng 11 nhà máy thủy điện. Tác động lớn nhất của việc xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với hạ nguồn nói chung và ĐBSCL nói riêng là lượng phù sa đã bị giảm, kéo theo xói lở. Ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Cần Thơ, cho rằng: Biến đổi khí hậu được nói nhiều và có nhiều nghiên cứu hơn kể cả các giải pháp được đưa ra thì đe dọa từ các đập trên thượng nguồn phần lớn mới chỉ dừng lại ở việc báo động. Biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng và các con đập trên thượng nguồn sông Mekong là thách thức kép, nhân đôi những khó khăn thách thức ĐBSCL phải đối mặt trong những năm tới. Những nghiên cứu, đánh giá tác động biến đổi khí hậu đòi hỏi phải gắn chặt với nghiên cứu, đánh giá tác động của các con đập, sự thay đổi lưu lượng, dòng chảy đối với phát triển kinh tế, đời sống của cư dân ĐBSCL. Cả 2 vấn đề này là không thể tách rời.

Tháng 9-2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch thủy lợi ĐBSCL giai đoạn 2012-2020 và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng (Quyết định số 1397/QĐ-TTg ngày 25-9-2012). Quy hoạch thủy lợi này nhằm góp phần khai thác, sử dụng hiệu quả, bảo vệ và phát triển nguồn nước ở thượng lưu và vùng lân cận; kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình; hạn chế các tác hại do nước gây ra. Nhất là lũ lụt và xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Tuy nhiên, quy hoạch chưa xem xét quan hệ cung cầu tài nguyên nước một cách tổng thể ở từng tiểu vùng, từng địa phương; cũng như chưa quy định cơ chế phân phối, sử dụng, bảo vệ và phát triển, giám sát tình hình sử dụng nguồn tài nguyên quan trọng bậc nhất trong vùng. "Cần xây dựng ngay chiến lược bảo vệ, phát triển và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước cho toàn lưu vực sông Mekong của Việt Nam. Trong đó, sử dụng cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước tổng hợp và dựa trên lưu vực sông. Tài nguyên nước không chỉ được xem như "tài sản chung" mà còn là "hàng hóa có giá trị thương mại và kinh tế". Với cách tiếp cận như vậy, tài nguyên nước trong vùng sẽ có thể được đánh giá một cách đúng đắn, tạo tiền đề cho các hoạt động bảo vệ, phát triển và sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả theo các nguyên tắc đảm bảo lợi ích quốc gia"- TS Vũ Tuấn Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Việt Nam, đề xuất.

Đổi mới toàn diện thể chế nông nghiệp

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), ở ĐBSCL, mỗi hộ canh tác 3 vụ lúa thu được lợi nhuận 35 - 40 triệu đồng/ha/năm, thấp hơn 2,7 lần so với Thái Lan; thấp hơn 1,5 lần so với Indonesia và Philippines. Nguyên nhân là quy mô sản xuất nông hộ nhỏ, cơ giới hóa khó khăn. Cụ thể, quy mô sản xuất trung bình của hộ trồng lúa trong vùng là 1ha/hộ; có 38,4% số hộ sản xuất dưới 0,5ha; 48,2% số hộ từ 0,5 - 2ha và chỉ có 13,4% số hộ có diện tích trên 2ha. Những điều này đòi hỏi phải có bước đột phá về chính sách để đưa nền nông nghiệp truyền thống, nhỏ lẻ, manh mún sang quỹ đạo hàng hóa thị trường hiện đại. Đồng thời, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tạo ra nền nông nghiệp giá trị cao và chất lượng dựa trên việc ứng dụng phổ biến các thành tựu khoa học công nghệ và phát triển bền vững. Theo các chuyên gia, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã và đang diễn ra ở ĐBSCL là một hướng đi mới và đòi hỏi sự đầu tư mới lớn hơn. Nhưng, quan trọng nhất là cải cách thể chế để nông nghiệp phát triển. So với ngành công nghiệp, dịch vụ, khu vực đô thị thì thể chế cho nông nghiệp, khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, có thể nói là bị kiềm chế nhiều. Người nông dân ít có quyền tự do trong kinh doanh, trong quyết định sản xuất, bán sản phẩm và định giá sản phẩm so với những người hoạt động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ.

Từ năm 2013, tỉnh Đồng Tháp xây dựng và triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ông Nguyễn Thành Tài, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp, cho biết: Nhiều mô hình trong các ngành hàng thuộc Đề án đạt được nhiều kết quả tích cực. Điển hình như: Mô hình giảm giá thành trong sản xuất lúa, quy mô thực hiện 40ha, giúp năng suất tăng 0,48 tấn/ha, giá thành giảm 798 đồng/kg, lợi nhuận nông hộ tăng 7,4 triệu đồng/ha so với ngoài mô hình. Ngành cây ăn trái nổi lên mô hình trồng xoài của Hợp tác xã Mỹ Xương (huyện Cao Lãnh) đạt chứng nhận GlobalGAP… Để thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững với quy mô lớn, mang tính cạnh tranh cao, ông Nguyễn Thành Tài kiến nghị: Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách, ưu đãi đầu tư vào hoạt động nông nghiệp, giúp các địa phương thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp thành công. Cụ thể như: Sớm có chính sách mở rộng hạn điền, tạo điều kiện thuận lợi khi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp có tính đồng bộ, mang lại hiệu quả cao hơn. Ban hành chính sách tăng mức hỗ trợ khi đầu tư khoa học và công nghệ vào hoạt động nông nghiệp để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư khoa học và công nghệ thúc đẩy nông nghiệp phát triển… Theo TS Vũ Tuấn Anh, cần tích tụ ruộng đất trong tay những doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có khả năng kinh doanh hiệu quả. Quá trình tích tụ này thực hiện diễn ra hoặc "con đường vòng" (như mô hình cánh đồng lớn) hoặc diễn ra "chui" – không có sự cho phép chính thức của bộ máy nhà nước. Bằng cách công nhận quyền sở hữu lâu dài đối với đất, quá trình tích tụ ruộng đất sẽ diễn ra trôi chảy theo cơ chế thị trường.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 2 của Chính phủ, Thủ tướng đã nêu rõ chủ trương phải tạo thuận lợi cho tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Việc này đã được giao cho 3 Bộ: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ NN&PTNT, Bộ Tư pháp nghiên cứu chính sách, hoàn thành trong quý III/2017. Mới đây, tại hội nghị về lúa gạo ở An Giang, Thủ tướng một lần nữa nhấn mạnh chủ trương này như một giải pháp đột phá về thể chế, cứu cánh cho lúa gạo hay nền nông nghiệp Việt Nam đang suy giảm hiện nay. Tích tụ ruộng đất, mở rộng hạn điền sẽ tiếp tục là đề tài nóng trong thời gian tới. Nhưng nó được kỳ vọng tạo sức bật cho nền nông nghiệp ĐBSCL và cả nước.

Bài, ảnh: Thanh Long

Bài 3: Lực đẩy "tứ trụ" cần cú hích mới

Chia sẻ bài viết