* Thanh Long
Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) vùng ĐBSCL, gồm: TP Cần Thơ và các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cà Mau đã và đang có bước chuyển mình mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong quá trình hợp lực vẫn cần nhiều hơn sự "kết dính". Đặc biệt, bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, đòi hỏi "tứ giác động lực" vùng ĐBSCL năng động hơn nữa để "cất cánh" như kỳ vọng.
Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL được xác định là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thủy sản, cây ăn trái, góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông sản, thủy sản cả nước; là trung tâm năng lượng, dịch vụ - du lịch lớn của cả nước; là cầu nối trong hội nhập kinh tế khu vực và giữ vai trò quan trọng về quốc phòng, an ninh của đất nước
Khi bàn về vai trò của vùng đất này, ông Nguyễn Phong Quang, Phó Ban Thường trực, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, khẳng định: Các bộ, ngành Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và các tỉnh, thành vùng KTTĐ đã phối hợp triển khai nhiều giải pháp; tập trung đề xuất Trung ương ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống giao thông, thủy lợi, đào tạo nguồn nhân lực
Từ đó, kinh tế - xã hội của vùng KTTĐ tiếp tục phát triển và đạt được nhiều kết quả quan trọng; đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong vùng nâng lên, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn trong vùng ngày càng rút ngắn. Kết quả này là nền tảng vững chắc, tạo đà cho vùng KTTĐ bước vào giai đoạn tiếp theo: giai đoạn phát triển dựa vào thực lực và thế mạnh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
* Dựa vào thực lực và thế mạnh
TP Cần Thơ là "hạt nhân" của vùng KTTĐ và cả vùng ĐBSCL. Thành phố đang khẳng định vai trò "đầu tàu" phát triển công nghiệp, thương mại- dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực, khám chữa bệnh cho người dân... Về lợi thế phát triển nông nghiệp, ông Lê Văn Tâm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ, cho biết: Thành phố đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, thực hiện liên kết, hợp tác với viện, trường, như: Trường Đại học Cần Thơ, Viện Lúa ĐBSCL, Viện Cây ăn quả miền Nam
và các cơ quan nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ Trung ương. Nhờ đó, thành phố phát triển các mô hình sản xuất tập trung trên các sản phẩm chủ lực, như: cánh đồng lớn trên lúa, vùng rau an toàn trên rau màu, kết hợp du lịch sinh thái trên cây ăn trái
đạt hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP, VietGAP đã góp phần nâng cao chất lượng và giá trị nông sản xuất khẩu. Từ đó người dân nhận thức rõ về "sản phẩm sạch, chất lượng cao", sử dụng an toàn thuốc bảo vệ thực vật, góp phần bảo vệ môi trường
Đây cũng là định hướng phát triển của thành phố trên chặng đường trở thành trung tâm nông nghiệp của vùng ĐBSCL như kỳ vọng.

Một góc Khu Công nghiệp Trà Nóc - Cần Thơ. Ảnh: THANH LONG
Các địa phương còn lại của "tứ giác động lực" cũng chọn hướng đi dựa vào lợi thế địa phương. Tỉnh An Giang là một trong những địa phương dẫn đầu vùng và cả nước về sản xuất lúa gạo đã chọn nâng cao chuỗi giá trị sản xuất lúa gạo, nâng cao thu nhập cho người trồng lúa làm lợi thế cạnh tranh. Để làm được điều này, theo ông Hồ Việt Hiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, trong tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo, An Giang sẽ tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng; phát triển các loại lúa đặc sản mang tính chất đặc thù vùng, miền; tận dụng những phụ phẩm trong sản xuất lúa gạo để tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng khác nhằm tăng thêm thu nhập cho người trồng lúa. "Dĩ nhiên, trong quá trình tổ chức sản xuất, An Giang sẽ tăng cường hợp tác với các tỉnh trong vùng KTTĐ, vùng ĐBSCL, cả nước và hợp tác quốc tế để cập nhật thông tin về sản xuất, thị trường và nâng cao chất lượng dự báo hỗ trợ doanh nghiệp hoạch định chiến lược phát triển thị trường. Đồng thời, tỉnh sẽ tăng cường thu hút các dự án FDI đầu tư các nhà máy chế biến nông sản thực phẩm nhằm khai thác các vùng nguyên liệu sẵn có; tăng cường phối hợp với các ngành hữu quan xúc tiến mở rộng thị trường tiêu thụ lúa gạo
"- ông Hồ Việt Hiệp vạch ra hướng phát triển ngành lúa gạo địa phương. Với lợi thế là địa phương duy nhất của cả nước giáp biển Đông và biển Tây, tổng chiều dài bờ biển khoảng 254km, Cà Mau chọn kinh tế biển làm mũi "giáp công" để phát triển kinh tế - xã hội địa phương và đóng góp vào sự phát triển chung của toàn vùng. Tỉnh Kiên Giang có nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế phong phú đa dạng, như: kinh tế biển; nông lâm nghiệp; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông thủy sản và lĩnh vực du lịch. Ngoài ra, Kiên Giang còn có tiềm năng lớn về kinh tế cửa khẩu, hàng hải và mậu dịch quốc tế. Những tiềm năng, thế mạnh riêng có này tiếp tục được tỉnh khai thác hiệu quả trong tiến trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế.
* Hợp lực
Liên kết cùng phát triển được các ngành hữu quan, các địa phương vùng KTTĐ và cả vùng ĐBSCL đặc biệt quan tâm. Điều này được thể hiện ở việc thời gian qua Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, các địa phương trong vùng phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai nhiều hội nghị xúc tiến đầu tư vào vùng KTTĐ, vùng ĐBSCL thông qua diễn đàn hợp tác kinh tế vùng ĐBSCL và nhiều kênh khác nhau.

Một góc cảng Cái Cui, Cần Thơ. Ảnh: T.Long
TP Cần Thơ được Bộ Chính trị, Chính phủ xác định là trung tâm động lực, đóng vai trò kết nối, tạo lực đẩy cho vùng ĐBSCL nói chung và vùng KTTĐ vùng ĐBSCL nói riêng phát triển. Thời gian qua, thành phố đã ký kết, hợp tác với các tỉnh trong vùng ĐBSCL, như: Trà Vinh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bến Tre và mở rộng thêm với TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu... Theo nhận định của UBND thành phố, hợp tác đã tạo điều kiện phát huy hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh, tận dụng được lợi thế so sánh của từng địa phương. Từ đó đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của vùng ĐBSCL và cả nước. Ông Võ Thành Thống, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho biết: Thời gian tới, thành phố tiếp tục chủ động, đẩy mạnh các hoạt động liên kết với các địa phương trong vùng KTTĐ, vùng ĐBSCL, các vùng miền khác trong cả nước và quốc tế để khai thác thế mạnh trong phát triển du lịch, nông nghiệp, thương mại; thực hiện các công trình giao thông kết nối... TP Cần Thơ tiếp tục liên kết với các địa phương để khẳng định vai trò trung tâm đào tạo nguồn nhân lực của cả vùng ĐBSCL. Thành phố phấn đấu là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng.

Kiên Giang có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển như : kinh tế biển; nông lâm nghiệp; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông-thủy sản và lĩnh vực du lịch. Trong ảnh: Một góc cửa biển Ba Hòn, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: T.Long
Định hướng phát triển của thành phố phù hợp với định hướng kỳ vọng phát triển vùng KTTĐ vùng ĐBSCL. Tại Quyết định số 245/QĐ-TTg, ngày 12-2-2014 của Thủ tướng Chính phủ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐ vùng ĐBSCL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, khẳng định: "Xây dựng vùng này trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, có đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế đất nước, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cả vùng ĐBSCL giàu mạnh, tiến kịp mặt bằng chung của cả nước". Phát huy thế mạnh vùng và đúng "đường ray" của Quyết định 245, ông Nguyễn Phong Quang, Phó trưởng Ban Thường trực, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, cho rằng: Cần tăng cường hơn nữa liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành trong vùng KTTĐ trên các lĩnh vực; tăng cường liên kết giữa vùng KTTĐ với địa phương vùng ĐBSCL và với các vùng khác trên cả nước, cũng như các nước lân cận. Các địa phương cần phối hợp trong quy hoạch đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung; các công trình xử lý rác thải, hệ thống thủy lợi; khai thác, sử dụng và bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên cho toàn vùng. Trong tái cơ cấu nông nghiệp, cần phối hợp quy hoạch và xây dựng vùng nguyên liệu, phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch; hợp tác cùng mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL.Vấn đề hợp lực cũng được Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh khẳng định tại Hội thảo "Phát triển kinh tế - xã hội vùng KTTĐ vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2030" diễn ra tại TP Cần Thơ vào tháng 8 năm rồi. Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Vùng KTTĐ và cả ĐBSCL cần mở rộng mô hình liên kết. Trên hết là liên kết vùng để đảm bảo phát triển bền vững. Bao gồm: Liên kết tự nguyện giữa các địa phương; liên kết bắt buộc giữa các tỉnh liền kề nhau, có thế mạnh giống nhau để không triệt tiêu lẫn nhau. Nhà nước cần có cơ chế chính sách phù hợp; nhất là định hướng nông dân sản xuất theo nhu cầu thị trường. Hợp lực nâng cao năng lực cạnh tranh phải là "kim chỉ nam" của các địa phương trong quá trình phát triển.
* Hoàn thiện bộ máy thể chế!
Đạt được kết quả đáng ghi nhận nhưng phát triển vùng KTTĐ vẫn còn nhiều trăn trở dù "bộ khung" cơ chế đã được các Bộ, ngành ban hành, như: Quyết định 245, quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn, quy hoạch cấp nước, thoát nước vùng KTTĐ đến năm 2020; quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng KTTĐ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Bởi lẽ nhiều năm nay, theo nhận định của các địa phương: vùng KTTĐ và cả vùng ĐBSCL chưa có hành lang pháp lý chung cho việc thực hiện các liên kết; liên kết giữa các địa phương phần lớn mang tính tự phát, thiếu phối hợp quy hoạch giữa các tỉnh/thành để thực thi quy hoạch có hiệu quả; tình trạng phân bố lãnh thổ đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, phân khu chức năng,... giữa các địa phương có sự mâu thuẫn, thậm chí đối nghịch nhau. Các thỏa thuận hợp tác giữa các địa phương chỉ dừng lại ở việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm, hội thảo, hội nghị
; chưa xây dựng được các chương trình, đề án, kế hoạch, nghiên cứu cụ thể cho từng thế mạnh của mỗi địa phương. Theo ông Võ Thành Thống, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ, các vùng KTTĐ nói chung và vùng KTTĐ vùng ĐBSCL nói riêng chưa có bộ máy thể chế vùng. Các vùng KTTĐ có ban chỉ đạo, văn phòng ban chỉ đạo và tổ công tác nhưng thực chất chỉ chịu trách nhiệm theo dõi kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo thực hiện các quy chế chính sách ban hành cho các vùng; kiểm tra, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm cho hoạt động của các vùng; không phải là hệ thống cơ quan có chức năng quản lý. Bộ máy này không thể là cơ quan tiếp nhận chính sách và tổ chức thực thi chính sách mang tính toàn vùng. Đồng thời, cũng không có khả năng xây dựng định hướng, chiến lược, quy hoạch, hoạch định những chính sách riêng biệt thống nhất cho toàn vùng. Điều này có nghĩa, các vùng KTTĐ thiếu đại diện để điều phối, hay phối hợp hoạt động của địa phương, bộ ngành có liên quan nên không thể chủ động thực thi các chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển vùng
Giải quyết những vấn đề trên, ông Thân Đức Hưởng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, cho rằng: Chính phủ khẩn trương hoàn thiện và ban hành Quy chế liên kết vùng ĐBSCL, trong đó có vùng KTTĐ. Từ đó các địa phương trong vùng cùng nhau rà soát, thống nhất điều chỉnh, tránh tình trạng sản xuất trùng lắp, hàng hóa dư thừa, cục bộ. Chính phủ cần tạo cơ chế, chính sách động lực mang tính đặc thù cho vùng ĐBSCL hướng đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm phát triển ĐBSCL. Đặc biệt, cần có cơ chế, chính sách chung cho "tứ giác động lực" và cơ chế cho từng địa phương thuộc vùng KTTĐ vùng ĐBSCL. Từ đó, mỗi địa phương mới có thể phát huy nội lực và từng bước trở thành "đầu tàu" kéo các địa phương trong vùng cùng phát triển.
Kết thúc năm 2015, vùng KTTĐ vùng ĐBSCL và các vùng KTTĐ khác trong cả nước đón nhận thông tin vui. Đó là: Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các vùng KTTĐ và Hội đồng vùng KTTĐ. Theo đó, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ Võ Thành Thống là Chủ tịch Hội đồng vùng KTTĐ vùng ĐBSCL nhiệm kỳ 2015-2016. Theo quyết định của Thủ tướng, Hội đồng vùng là tổ chức kết nối giữa Ban Chỉ đạo với các địa phương trong vùng KTTĐ và chỉ đạo, điều phối các liên kết trong vùng. Hội đồng vùng có nhiệm vụ chỉ đạo và tổ chức phối hợp các địa phương trong vùng KTTĐ thực hiện các Quy hoạch phát triển của vùng KTTĐ; theo dõi quá trình xây dựng, điều chỉnh quy hoạch của địa phương trong vùng... "Việc hình thành Hội đồng các vùng KTTĐ, trong đó có vùng KTTĐ vùng ĐBSCL chắc chắn sẽ giải quyết nhiều vướng mắc trong công tác điều phối. Đây có thể được xem là một bước hoàn thiện bộ máy thể chế để các địa phương trong vùng KTTĐ tìm và thống nhất được "tiếng nói chung" trong quá trình phát triển xứng tầm và là đầu tàu kéo các địa phương trong vùng "cất cánh"" ông Võ Thành Thống kỳ vọng.
|
- Giai đoạn 2001-2005, GDP của vùng KTTĐ vùng ĐBSCL đạt bình quân 10,96%/năm (cả nước 7,5%); giai đoạn 2006-2010 là 12,59%/năm (bình quân chung của cả 8 vùng KTTĐ của cả nước là 10,98%/năm). Giai đoạn 2011-2015, dù gặp nhiều khó khăn, nhưng GDP bình quân của vùng KTTĐ khoảng 11%/năm (cả nước ước đạt 5,88%). Năm 2015 thu nhập bình quân đầu người ước đạt khoảng 2.470 USD/người/năm (tương đương 51,03 triệu đồng/người/năm)... Ước giai đoạn 2011-2015, tổng sản lượng lúa của vùng đạt trên 51 triệu tấn, thủy hải sản đạt 7,7 triệu tấn. Công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ của vùng phát triển khá với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011-2015 của 2 khu vực này khoảng 9,55%/năm và 12,82%/năm.
Năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo bình quân của 4 địa phương khoảng 8,06% đến năm 2015 giảm còn khoảng 2,6% - tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với bình quân chung của vùng.
- Nhiều công trình trọng điểm mang ý nghĩa cho toàn vùng "cất cánh" được ưu tiên đầu tư nâng cấp và hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng đã tạo bước đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng, như: Cảng hàng không Quốc tế Cần Thơ; Trung tâm điện lực Ô Môn, Cụm dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau; hoàn thành nâng cấp cải tạo quốc lộ 1A (đoạn Mỹ Thuận - Cà Mau); hoàn thành một số cầu lớn như cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu, đang xây dựng cầu Vàm Cống
|