Bài 2: PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN - Ồ ẠT VÀ THIẾU KIỂM SOÁT
Ngày 15-6-2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản (TS). Từ đây, phong trào nuôi trồng thủy sản (NTTS) cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng phát triển rất nhanh và cũng bộc lộ sự thiếu sự kiểm soát của các ngành chức năng. Sự phát triển “quá đà” này đã và đang phát sinh nhiều khó khăn, bất cập cộng với những tác động xấu của biến đổi khí hậu đẩy ngành TS ĐBSCL đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững, ảnh hưởng lớn đến những lợi thế vốn có đã được khẳng định của ngành này từ nhiều năm nay.
QUY HOẠCH “HỤT HƠI” THEO ĐÀ PHÁT TRIỂN
Theo Bộ NN&PTNT, năm 2000, toàn vùng ĐBSCL mới chỉ có 445.300ha NTTS, với tổng sản lượng 365.141 tấn. Đến cuối năm 2009, diện tích NTTS của cả vùng trên 823.000 ha và sản lượng TS đạt trên 1,9 triệu tấn. Nghề NTTS phát triển nhanh kéo theo sự phát triển ồ ạt về số lượng của cơ sở sản xuất giống, nhà máy chế biến thức ăn, nhà máy chế biến TS... Tuy nhiên, điều đáng quan tâm trong quá trình phát triển này, phần lớn là tự phát, không theo một định hướng hay một kế hoạch, quy hoạch cụ thể nào. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lương Lê Phương cho biết: Nhiều năm qua, phát triển TS, đặc biệt là vùng ĐBSCL luôn được sự quan tâm của các ngành, các cấp. Tuy nhiên, giữa phát triển và quy hoạch ngành TS chưa thật sự tương xứng; quy hoạch chưa theo kịp tốc độ phát triển ồ ạt về sản lượng nuôi trồng lẫn xuất khẩu của các đối tượng TS.
 |
|
Phát triển quá nhanh và thiếu sự kiểm soát từ các ngành hữu quan khiến ngành thủy sản ĐBSCL đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững. Trong ảnh: Thu hoạch tôm sú ở Bạc Liêu. Ảnh: T. TÂM |
Từ năm 1995 đến nay, chính phủ, các bộ ngành Trung ương,... đã ban hành hàng trăm văn bản, chính sách liên quan đến phát triển NTTS. Nhưng nội dung của các văn bản, chính sách này chủ yếu xoay quanh các vấn đề như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế; khuyến khích phát triển giống TS; phát triển NTTS trên biển, hải đảo; hỗ trợ đầu tư, tín dụng; chính sách về đất đai, thuế, khuyến ngư... Mãi đến năm 2001, bản quy hoạch phát triển NTTS vùng ĐBSCL đến năm 2010 mới được xây dựng. Do triển khai sau khi có Nghị quyết 09/2000/NQ-CP về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, TS nên quy hoạch ngành TS ĐBSCL vừa nêu dù chưa ban hành nhưng cần thiết phải điều chỉnh bổ sung cho phù hợp...
Ngày 11-1-2006, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành TS đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, ĐBSCL phát triển NTTS trên tất cả các loại mặt nước, đặc biệt nuôi tôm, cá tra, ba sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển; củng cố và nâng cấp đội tàu đánh bắt xa bờ hiện có; nâng cấp các nhà máy chế biến hiện có và phát triển thêm một số nhà máy; hình thành các trung tâm hậu cần dịch vụ nghề cá ở vùng ven biển và trong nội đồng. Tiếp sau đó, Bộ trưởng Bộ TS (trước đây) ra Quyết định số 395/QĐ-BTS ngày 10-5-2006, giao cho Viện Kinh tế và Quy hoạch TS xây dựng Quy hoạch phát triển NTTS ĐBSCL đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên phạm vi 13 tỉnh, thành phố trong vùng, nhằm đánh giá một cách xác thực, khách quan về các điều kiện phát triển; phân tích những tồn tại, hạn chế trong giai đoạn vừa qua, làm cơ sở để quy hoạch phát triển đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, hướng nghề NTTS vùng ĐBSCL phát triển ổn định, bền vững. Dù cuối năm 2009, Viện Kinh tế và Quy hoạch TS đã cơ bản hoàn tất những nội dung vừa nêu, nhưng đến nay quy hoạch mang tính định hướng cho phát triển TS ĐBSCL vẫn chưa chính thức công bố đến các địa phương trong vùng.
Đối với các quy hoạch chuyên ngành khác như quy hoạch về thủy lợi, về con giống, cá tra, cá ba sa... cho cả vùng cũng đã được xây dựng và công bố. Tuy nhiên, theo nhận định của các ngành hữu quan, các quy hoạch này hoặc là “lội nước theo sau”, hoặc đã quá lạc hậu so với sự phát triển tương ứng của ngành TS.
TÔM CHẾT, TỶ LỆ CÁ TRA HAO HỤT TĂNG CAO
Con tôm sú và cá tra là hai đối tượng TS được nuôi chủ lực ở ĐBSCL. Tuy nhiên, nhiều năm nay, tôm chết, tỷ lệ cá tra nuôi bị hao hụt ngày càng cao. Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này chính là việc sản xuất và cung ứng con giống ở vùng ĐBSCL nhiều năm nay bị thả nổi trong quản lý khiến tình trạng con giống chưa qua kiểm dịch, con giống kém chất lượng được mua bán tự phát, tràn lan...
Đối với con tôm sú, theo các ngành chức năng, thời gian gần đây, sản xuất giống đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nuôi, không xảy ra tình trạng sốt giống như trước, việc mua giống trôi nổi đã giảm hẳn. Tuy nhiên, một số bất cập trong công tác quản lý như phí kiểm dịch quá cao, cơ quan kiểm dịch chưa ổn định... nên tình trạng tôm giống chưa qua kiểm dịch vẫn còn nhiều trên thị trường. Điều đáng quan tâm là tình trạng tôm sú giống mang mầm bệnh, chủ yếu là tôm giống chưa qua kiểm dịch đang có chiều hướng bùng phát không kiểm soát được. Điển hình, trung tuần tháng 3-2010, ngành chức năng Cà Mau kiểm tra ngẫu nhiên 10 mẫu tôm giống trên địa bàn tỉnh. Kết quả, 10/10 mẫu đều nhiễm bệnh đốm trắng. Ông Trần Minh Trường, người nuôi tôm huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, bức xúc: Khi tôm chết, nhiều chủ vuông không xử lý mầm bệnh trước khi bơm nước ra môi trường khiến các vuông khác cũng bị nhiễm bệnh và tình hình ngày càng nghiêm trọng hơn khi diện tích lây lan trên diện rộng. Đây là thực trạng chung ở các vùng tôm ĐBSCL nhiều năm nay nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu. Theo Bộ NN&PTNT, chỉ tính đến cuối tháng 4-2010, đã có hiện tượng tôm chết trên diện tích khoảng 40.000ha nuôi tôm ở ĐBSCL với mức độ thiệt hại từ 20% đến 80%, nhiều nhất tại các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng...
Về giống con cá tra, ông Nguyễn Ngọc Hải, Chủ nhiệm HTX nuôi cá tra xuất khẩu Thới An, quận Ô Môn, TP Cần Thơ, cho biết: Từ năm 2000 trở lại đây, tình hình cá tra thả nuôi bị chết diễn biến hết sức phức tạp, nhất là cá trong giai đoạn 2-3 tháng tuổi. Có lúc tỷ lệ cá chết lên đến 50%. Ngoài tác động của môi trường nuôi ngày càng xấu đi, thì chất lượng giống là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ hao hụt cá ngày càng gia tăng. Theo ông Hải, chính sự suy thoái nội tại mới dẫn đến tình trạng cá tra dễ bị sốc trước biến đổi của môi trường, cá dễ bị nhiễm bệnh và không còn khả năng điều trị...
Theo Cục NTTS, Bộ NN&PTNT, trước đây, cá tra bố mẹ lấy từ môi trường tự nhiên nuôi từ 2,5 - 3 năm tuổi, trọng lượng 4-5 kg mới bắt đầu thành thục. Nhưng nay, cá nuôi mới 5-6 tháng tuổi, trọng lượng đã thành thục. Để giảm chi phí mà vẫn thu được sản lượng cá bột cao, nhiều trại giống đã giảm khối lượng đàn cá bố mẹ, giảm sản lượng thức ăn nuôi dưỡng nhưng lạm dụng kích dục tố tăng cường độ sinh sản 5-6 lứa/năm nên chất lượng cá bột rất thấp. Trong khi đó, đến cuối năm 2009, toàn vùng có khoảng 4.000 cơ sở ương nuôi cá giống, nhưng chỉ có 1/4 số cơ sở này có đăng ký kinh doanh và sản xuất thường xuyên. Còn lại hầu hết các cơ sở quy mô nhỏ, sản xuất không ổn định, khi nào giá cá giống cao thì hoạt động, khi giá cá giống thấp thì ngưng. Những cơ sở này điều kiện ao ương không đảm bảo, sử dụng thức ăn tự chế với những loại tươi sống làm nước nhanh dơ, nguồn nước bị động không được thay thường xuyên nên ô nhiễm, tiềm ẩn các loại bệnh và ký sinh trùng. Trong khi nguồn cá bột chất lượng thấp, lại được ương trong điều kiện môi trường không đảm bảo nên hao hụt rất lớn, tỷ lệ sống chỉ đạt 15-20%, thậm chí có đợt chỉ 2-3%.
TÁC ĐỘNG XẤU CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Theo kịch bản về nước biển dâng được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố, ĐBSCL là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì khoảng 31% diện tích của khu vực ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng hoặc ngập. Đồng thời, đây cũng là nơi chịu hậu quả lớn của tiến trình xói lở, xâm nhập mặn và ảnh hưởng đến đời sống, nơi cư trú của hàng triệu người, đảo lộn sự phát triển kinh tế xã hội toàn vùng. Theo các ngành chuyên môn, có nhiều nguyên nhân gây biến đổi khí hậu và ngành TS được xác nhận là ít đóng góp nhất vào việc thúc đẩy sự biến đổi này. Nhưng ngược lại, TS lại là một trong những ngành chịu thiệt hại nhiều nhất: suy giảm năng suất, bùng nổ dịch bệnh, mất dần một phần hoặc toàn bộ diện tích NTTS... Ngoài ra, theo Thạc sĩ Thân Thị Hiền, Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng: Nhiệt độ tăng làm tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước và có thể dẫn đến nguồn nước bị ô nhiễm, nguy cơ mắc bệnh của các loài TS lại càng cao. Bên cạnh đó, ảnh hưởng trực tiếp từ việc giảm mưa trong mùa khô, đồng thời cùng với sự tăng nhiệt độ không khí sẽ làm tăng lượng bốc hơi nước tại các khu vực NTTS sẽ làm tăng độ mặn. Điều này đòi hỏi phải bơm thêm nước ngọt vào các khu vực NTTS trong mùa khô để ổn định độ mặn và sẽ dẫn đến cạnh tranh trong việc sử dụng nước ngọt ở các lĩnh vực nông nghiệp khác như trồng lúa nước và hoa màu.
|
Áp lực dân số và hậu quả của chiến tranh đã thúc đẩy nhanh sự suy thoái, sự xáo trộn và phá hoại các hệ sinh thái tự nhiên của ĐBSCL. Diện tích rừng ngập mặn đã và đang suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động chuyển đổi diện tích rừng sang sản xuất nông nghiệp - TS, do xói lở bờ biển... Điều này có thể dẫn đến mất dần các bãi sinh sản tự nhiên của nhiều loài sinh vật, cạn kiệt nguồn lợi TS tự nhiên. Sự mâu thuẫn lợi ích giữa các ngành nông nghiệp và các ngành khác đối với ngành TS, ví dụ như quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, du lịch gây ô nhiễm... làm mất dần diện tích thuận lợi cho việc phát triển nuôi TS. Năng suất nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn bị giảm sút từ khoảng 200kg/ha/vụ (năm 1980) đến nay chỉ còn 80kg/ha/vụ. Rừng ngập mặn trước đây có thể khai thác được 800kg thủy sản/ha, nay chỉ thu được 1/20 so với trước. Đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 75 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi TS vùng biển ven bờ và nước ngọt bị khai thác quá giới hạn cho phép do tăng nhanh số lượng tàu thuyền đánh cá nhỏ. Nguồn lợi TS có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt...
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch TS
|
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tùng, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch TS, dự báo: Những tác động tiếp theo của biến đổi khí hậu sẽ phá vỡ các hệ sinh thái rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước hay khu vực sinh sản của động vật thủy sinh, thay đổi ngư trường, giảm trữ lượng và mức độ tập trung của các đàn cá lớn. Sự axít hóa môi trường nước biển làm giảm khả năng tích lũy canxi tạo vỏ của các loài nhuyễn thể; hiện tượng mưa axít ảnh hưởng đến TS nuôi trồng. Ngoài ra, các tác động gián tiếp của biến đổi khí hậu có thể khiến nguồn cung thức ăn NTTS sẽ khó khăn hơn và giá sẽ cao hơn. Các nguồn vốn đầu tư cũng có thể được hướng vào các ưu tiên khác cao hơn so với nghề cá... Vì vậy, đòi hỏi một kịch bản cho việc ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng ĐBSCL cần được nhanh chóng tiến hành xây dựng.
* * *
Bên cạnh những vấn đề được xem là nổi cộm nhất, quá trình phát triển của TS ĐBSCL còn phải đối mặt với nhiều thách thức như: phương tiện kỹ thuật đánh bắt xa bờ quy mô nhỏ và lạc hậu; hậu cần, cơ sở hạ tầng phục vụ ngành TS còn thiếu đồng bộ; ứng dụng công nghệ sinh học trong NTTS với mục tiêu tăng trưởng nhanh, chất lượng cao, chủ động phòng trị dịch bệnh còn nhiều hạn chế... Đặc biệt, trên thực tế, nội tại của tất cả các vấn đề trên, cộng với những tác động mang tính chất hệ lụy của những bất cập trong quá trình phát triển đã và đang khiến ngành TS ĐBSCL đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững. Cá tra, và tôm sú, hai đối tượng sản xuất và xuất khẩu chủ lực của TS ĐBSCL là một minh chứng cụ thể nhất.
MINH LÊ
Bài 3: BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ CON CÁ TRA VÀ TÔM SÚ