15/06/2026 - 07:50

ĐBSCL thêm cơ hội khai thác tiềm năng tín chỉ carbon 

Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21-5-2026 quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng (Nghị định 180), tạo hành lang pháp lý về quản lý nguồn tiền và tín chỉ carbon cung ứng. Quy định này mở ra cơ hội cho ĐBSCL khai thác tiềm năng giảm phát thải từ lâm nghiệp và cả nông nghiệp, hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Một góc Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau - “lá phổi xanh” của ĐBSCL. 

Bệ phóng tài chính xanh

Nghị định 180 quy định hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng phải đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và hài hòa lợi ích giữa các bên. Hành lang pháp lý này quy định rõ 2 hình thức chi trả: trả tiền trực tiếp theo hợp đồng hoặc trả tiền ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, nguồn tiền thu được từ việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng của chủ rừng - tổ chức được quy định ưu tiên hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng, xây dựng dự án và cải thiện sinh kế cho cộng đồng dân cư trên địa bàn. Quy định này tạo động lực lớn cho vùng ĐBSCL - nơi sở hữu diện tích đất lâm nghiệp và hệ sinh thái rừng ngập mặn tập trung tại các địa phương Cà Mau, Cần Thơ, Trà Vinh. Theo các đánh giá từ giới chuyên gia lâm nghiệp và tổ chức bảo tồn quốc tế, lợi thế đặc biệt của hệ sinh thái rừng ngập mặn miền Tây nằm ở khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon cao gấp nhiều lần so với rừng nhiệt đới trên cạn nhờ cơ chế tích tụ carbon hữu cơ sâu trong tầng đất ngập nước mặn, mở ra tiềm năng thương mại hóa hàng triệu tấn CO₂ quy đổi mỗi năm.

Các tiêu chuẩn khắt khe về lập dự án, đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) được quy định tại Nghị định 180 còn là định hướng cho ngành canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Tại Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” (Đề án) đích đến cốt lõi là thương mại hóa thành công nguồn tín chỉ carbon. Khi nông dân áp dụng các biện pháp giảm phát thải như tiết kiệm nước, giảm phân bón hóa học và tái chế rơm rạ, lượng khí nhà kính cắt giảm được sẽ được đo đạc, thẩm định. Mỗi tấn CO₂ tương đương cắt giảm thành công sẽ được cấp 1 tín chỉ để giao dịch hợp pháp trên thị trường hoặc bán cho các doanh nghiệp phát thải cao bù trừ.

Hiệu quả thực tế từ mô hình này bước đầu ghi nhận những số liệu rất khả quan. Tổng diện tích đăng ký tham gia Đề án hiện đã đạt khoảng 870.000ha. Trong đó, diện tích tham gia cơ chế chi trả giảm phát thải từ Quỹ Tài chính TCAF đạt trên 15.530ha với gần 10.000 hộ dân tiên phong đồng hành. Lượng khí nhà kính tại các mô hình từ Đề án giảm trung bình từ 25-44% so với tập quán canh tác truyền thống, tương đương 2-7,8 tấn carbon trên mỗi héc-ta tùy theo từng địa phương. Đi đôi với lợi ích môi trường, mô hình này mang lại lợi nhuận cao hơn canh tác truyền thống từ 4,6-8,8 triệu đồng/ha. Toàn vùng cũng đã có trên 18.080ha lúa đạt tiêu chuẩn cấp nhãn hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp, xuất khẩu thành công 500 tấn gạo đầu tiên sang thị trường Nhật Bản.

Thách thức MRV và bài toán minh bạch dữ liệu

Yêu cầu quản lý nghiêm ngặt của Nghị định 180 quy định tín chỉ carbon đã chuyển nhượng không được trao đổi trùng lặp và phải có xác nhận của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Do vậy, ĐBSCL đối mặt với nhiều rào cản nội tại.

Thách thức lớn nhất nằm ở năng lực vận hành MRV trên diện rộng. Hiện nay, tại ĐBSCL, việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng nhật ký điện tử và hệ thống giám sát mực nước phục vụ tính toán MRV mới chỉ ở quy mô thí điểm, năng lực quản trị của nhiều hợp tác xã chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu đồng bộ. Trong khi đó, các chuyên gia từ Tổ chức Xu hướng Lâm nghiệp nhận định thị trường carbon toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang cạnh tranh bằng chất lượng và tính toàn vẹn môi trường. Các dự án lâm nghiệp chất lượng cao đạt mức xếp hạng tín nhiệm hạng khá trở lên (từ mức BBB) có thể giao dịch ở mức giá khoảng 30USD mỗi tín chỉ, cao gấp gần 5 lần so với những tín chỉ chưa được đánh giá phân loại.

Quy trình kỹ thuật mới của trồng lúa phát thải thấp đòi hỏi áp dụng phương pháp tưới ngập khô xen kẽ, nhưng hệ thống kênh mương nội đồng tại nhiều địa phương ở ĐBSCL chưa đảm bảo... Bên cạnh đó, lộ trình xác lập tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP của Chính phủ định hướng đến hết năm 2026 tập trung phân bổ hạn ngạch cho khoảng 150 cơ sở phát thải lớn thuộc các ngành công nghiệp nặng như nhiệt điện, sắt thép và xi măng. Lĩnh vực nông, lâm nghiệp có cơ hội tham gia thị trường carbon nhưng phụ thuộc vào tiến độ hoàn thiện thể chế kết nối từng giai đoạn. Giá trị kinh tế của tín chỉ carbon phần lớn được quyết định bởi cung cầu quốc tế khiến người sản xuất chưa thể coi đây là một nguồn thu nhập cốt lõi, tạo ra tâm lý e ngại nhất định khi phải thay đổi thói quen canh tác truyền thống.

Nghị định 180 hướng các cơ sở sản xuất và địa phương phải minh bạch hóa số liệu, loại bỏ những kế hoạch nằm trên giấy. Kết quả giảm phát thải không thể là 1 chỉ số báo cáo hình thức, mà phải là kết quả của một quá trình tổ chức lại sản xuất căn cơ. Nhiều chuyên gia lưu ý để thu hút được nguồn vốn mua trước dài hạn từ các quỹ quốc tế, các dự án tại ĐBSCL bắt buộc phải chứng minh tính minh bạch về quyền sử dụng đất, quyền carbon và cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa.

ĐBSCL có tiềm năng lớn để chuyển đổi mô hình phát triển, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhưng để chuyển hóa tiềm năng này thành giá trị kinh tế xanh bền vững, rất cần giải quyết đồng bộ các bài toán về hạ tầng kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình MRV công nghệ và thắt chặt chuỗi liên kết thực chất giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nông dân.

Bài, ảnh: HÀ TRIỀU

Chia sẻ bài viết