Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 4-8, Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng và Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Bà Phạm Thị Minh Huệ, đại biểu Quốc hội đơn vị TP Cần Thơ, đã có góp ý quan trọng cho dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội Phạm Thị Minh Huệ phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ.
Theo đại biểu Phạm Thị Minh Huệ, Khoản 6, Điều 9 dự thảo: về các hành vi bị nghiêm cấm nêu: “6. Không thực hiện đúng trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách theo quy định của pháp luật”.
Qua rà soát, nhận thấy tại các khoản còn lại của Điều 9, các hành vi bị nghiêm cấm đều được quy định dưới dạng những hành vi có dấu hiệu nhận diện tương đối cụ thể như: truyền đạt sai lệch nội dung pháp luật; lợi dụng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; cản trở việc thực hiện quyền được thông tin về pháp luật... Trong khi đó, cụm từ “không thực hiện đúng trách nhiệm” có phạm vi khá rộng, chưa xác định rõ hành vi bị nghiêm cấm cũng như dấu hiệu để nhận diện hành vi vi phạm. Có thể dẫn đến phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau; khó xác định mức độ và tính chất của các hành vi và việc xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu rà soát khoản 6, Điều 9 theo hướng cụ thể hóa hành vi bị nghiêm cấm hoặc cân nhắc quy định nội dung này trong nhóm quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Khoản 2, Điều 13 dự thảo: về phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, nêu: “2. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian mạng chỉ được thực hiện thông qua các tài khoản đã được định danh hoặc xác thực theo quy định của pháp luật”.
Dự thảo chưa làm rõ khái niệm “tài khoản” trong trường hợp này được hiểu là tài khoản trên mạng xã hội của cá nhân hoặc tổ chức; tài khoản của cổng/trang thông tin điện tử, ứng dụng số hay các loại tài khoản khác; đồng thời cũng chưa xác định cụ thể căn cứ pháp luật điều chỉnh việc định danh hoặc xác thực đối với từng loại nền tảng.
Bên cạnh đó, việc sử dụng cụm từ “chỉ được” là quy định mang tính bắt buộc, làm phát sinh điều kiện đối với phương thức thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian mạng. Tuy nhiên, dự thảo chưa dẫn chiếu hoặc xác định căn cứ pháp luật để xác định thế nào là tài khoản đã được định danh hoặc xác thực. Trong khi đó, các nền tảng cung cấp dịch vụ trên không gian mạng hiện nay áp dụng nhiều cơ chế quản lý tài khoản khác nhau. Việc quy định chưa rõ có thể dẫn đến khó khăn trong việc xác định chủ thể nào đáp ứng điều kiện để thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian mạng.
Do đó, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu làm rõ đối tượng áp dụng, phạm vi của thuật ngữ “tài khoản đã được định danh hoặc xác thực” hoặc có quy định dẫn chiếu cụ thể đến pháp luật chuyên ngành nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và khả thi của dự thảo Luật.
Mục 2, Chương 2 dự thảo: dành riêng một Mục quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù. Tuy nhiên, theo đó, các quy định trong Mục này chủ yếu tập trung vào yêu cầu lựa chọn nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, trình độ của từng nhóm đối tượng; trong khi các nguyên tắc này về cơ bản đã được thể hiện tại Điều 5 của dự thảo Luật. Đồng thời, dự thảo chưa thể hiện rõ cơ chế, chính sách hoặc biện pháp đặc thù có tính khác biệt đối với từng nhóm đối tượng để làm nổi bật giá trị điều chỉnh riêng của Mục này. Đề nghị nghiên cứu rà soát, làm rõ tính đặc thù của các quy định hoặc cân nhắc sắp xếp lại kết cấu của dự thảo nhằm bảo đảm tính hợp lý, tránh trùng lặp về nội dung.
- Khoản 2, Điều 3 dự thảo quy định “2. Bố trí nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách; ưu tiên cho các đối tượng đặc thù; tích hợp, lồng ghép nguồn lực trong các chương trình, đề án có liên quan.”, nhận thấy cụm từ “nguồn lực tương xứng” chưa rõ, chưa xác định được thế nào là tương xứng, mang tính định tính. Do đó, đề xuất điều chỉnh cụm từ này bằng cụm từ “nguồn lực cần thiết, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và điều kiện thực tế”.
- Khoản 2, Điều 13 dự thảo quy định “2. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian mạng chỉ được thực hiện thông qua các tài khoản đã được định danh hoặc xác thực theo quy định của pháp luật.”, nhận thấy quy định này có thể hạn chế các chuyên gia, luật sư, luật gia; tổ chức xã hội; cá nhân tham gia phổ biến pháp luật; hoạt động chia sẻ, bình luận, giải thích pháp luật trên nền tảng số. Đề xuất nghiên cứu, điều chỉnh theo hướng “2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật do mình đăng tải, cung cấp trên không gian mạng; việc sử dụng tài khoản, nền tảng số phải tuân thủ quy định của pháp luật về định danh, xác thực, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân”.
- Khoản 3, Điều 19 dự thảo quy định:
“Điều 19. Mục đích, nội dung, hình thức giáo dục pháp luật
3. Nội dung giáo dục pháp luật chính khóa phải phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo; được lồng ghép trong chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; thiết kế thành môn học, học phần riêng hoặc tích hợp phù hợp trong các môn học, học phần khác tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp”.
Nhận thấy quy định nội dung giáo dục pháp luật được thiết kế thành môn học, học phần riêng hoặc tích hợp, quy định này tương đối linh hoạt, nhưng cần tránh việc Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật lại can thiệp quá sâu vào chương trình giáo dục quốc dân, chỉ nên xác định Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật chỉ quy định nghiên về mục tiêu, nguyên tắc; việc thiết kế chương trình, môn học, học phần thực hiện theo pháp luật về giáo dục và đào tạo. Do đó, đề xuất nghiên cứu, điều chỉnh theo hướng “3. Nội dung, hình thức giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục được thực hiện phù hợp với pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và yêu cầu của từng cấp học, trình độ đào tạo”.
- Điểm d, khoản 2, Điều 21; khoản 3, Điều 29 dự thảo quy định:
“Điều 21. Mục đích, nội dung, hình thức truyền thông chính sách
2. Truyền thông chính sách nhằm các mục đích sau đây:
d) Định hướng dư luận, kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật”.
“Điều 29. Trách nhiệm của cơ quan báo chí
3. Định hướng dư luận, đấu tranh, phản bác kịp thời các thông tin sai lệch, xuyên tạc về chính sách, pháp luật”.
Nhận thấy cụm từ “định hướng dư luận” có thể được hiểu là yêu cầu cơ quan truyền thông phải định hướng theo một chiều. Đề xuất điều chỉnh thành “Cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; giải thích, làm rõ và phản bác thông tin sai sự thật, xuyên tạc chính sách, pháp luật theo quy định của pháp luật”.
- Khoản 1, Điều 34 dự thảo quy định:
“Điều 34. Tuyên truyền viên pháp luật
1. Tuyên truyền viên pháp luật là già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, có kiến thức, am hiểu về pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền lựa chọn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở”.
Nhận thấy tuyên truyền viên pháp luật không chỉ có “già làng, trưởng bản, người có uy tín” mà còn có thể gồm người am hiểu pháp luật, cán bộ cơ sở, hòa giải viên, giáo viên, chức sắc, chức việc tôn giáo hoặc người có khả năng vận động cộng đồng. Do đó, đề xuất nghiên cứu điều chỉnh theo hướng “1. Tuyên truyền viên pháp luật là người có uy tín, hiểu biết pháp luật, có khả năng tuyên truyền, vận động và am hiểu địa bàn, cộng đồng, được cơ quan có thẩm quyền lựa chọn, công bố để tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở”.
P.V