03/09/2022 - 17:26

Củng cố nội lực để thu hút vốn FDI hiệu quả 

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Hiện nay, khối doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 55% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước cho thấy sự đóng góp quan trọng của khối FDI vào tăng trưởng kinh tế của nước ta. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam vẫn là điểm sáng trong thu hút vốn FDI nhiều năm qua.

Những điểm sáng

ĐBSCL có nhiều tiềm năng phát triển điện gió. Ảnh: P.T.CƯỜNG

ĐBSCL có nhiều tiềm năng phát triển điện gió. Ảnh: P.T.CƯỜNG

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong 8 tháng năm 2022, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 16,8 tỉ USD, chỉ bằng 87,7% so với cùng kỳ năm 2021. Mặc dù vốn đăng ký mới chưa hồi phục hoàn toàn, song vốn điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần tăng lần lượt là 50,7% và 3,6%. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 12,8 tỉ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2021 và cao nhất trong vòng 5 năm qua. Điều này cho thấy, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam được cải thiện mạnh mẽ, các nhà đầu tư đánh giá cao tiềm năng phát triển, nên mới tăng quy mô đầu tư. Cả nước hiện có 35.539 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký trên trên 430 tỉ USD. Vốn thực hiện lũy kế ước đạt 264,4 tỉ USD, bằng 61,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Nhiều năm qua, doanh nghiệp FDI luôn dẫn đầu về kim ngạch xuất nhập khẩu trong cán cân thương mại. Trong 8 tháng năm 2022, khối ngoại xuất siêu trên 21,7 tỉ USD (không kể dầu thô), với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 183 tỉ USD (không kể dầu thô), tăng 16,6% so với cùng kỳ và chiếm 73,2% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhập khẩu của khu vực FDI ước đạt 161,26 tỉ USD, tăng 14,2% so cùng kỳ và chiếm 64,9% kim ngạch nhập khẩu cả nước.  

Trong tổng dự án FDI còn hiệu lực, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành kinh tế quốc dân. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với trên 255,2 tỉ USD, chiếm 59,4% tổng vốn đầu tư. Xếp thứ hai là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản gần 65,5 tỉ USD, chiếm 15,2% tổng vốn đầu tư; sản xuất, phân phối điện gần 36,4 tỉ USD (chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư). Hiện có 139 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam. Hàn Quốc dẫn đầu, với vốn đăng ký trên 80,2 tỉ USD; Singapore đứng thứ hai với gần 70 tỉ USD; tiếp theo lần lượt là Nhật Bản, Đài Loan, Hong Kong,... Còn tính theo địa bàn đầu tư cả nước, TP Hồ Chí Minh đứng đầu với 55,4 tỉ USD vốn FDI (chiếm 12,9% tổng vốn đầu tư đăng ký); tiếp đến là tỉnh Bình Dương (trên 39,6 tỉ USD, chiếm 9,2% tổng vốn đầu tư); Hà Nội (trên 37,9 ttỉ USD, chiếm 8,8% tổng vốn đầu tư)…

Mặc dù các dự báo kinh tế toàn cầu nhận định kém lạc quan về đà phục hồi của nhiều nền kinh tế phát triển và đang phát triển, nhưng việc các nhà đầu tư nước ngoài liên tục mở rộng quy mô đầu tư cho thấy hiệu quả cải cách của Việt Nam được đánh giá cao. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, xu hướng phát triển xanh đang được nhiều quốc gia thúc đẩy và tác động bất định của đại dịch COVID-19 sẽ tạo ra làn sóng dịch chuyển đầu tư. Vì vậy, các địa phương cần chắc lọc dự án để chọn dự án FDI có công nghệ tốt, thân thiện môi trường, đáp ứng xu hướng phát triển kinh tế xanh… thì mới có thể tạo ra các động lực mới từ vốn FDI. Còn ngược lại, nếu không có sự sàng lọc tốt, các địa phương sẽ khó bứt phá từ nguồn lực khối ngoại, khi tiếp nhận các dự án có công nghệ kém, lạc hậu.

Cải thiện năng lực nội tại

Theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng thì dòng vốn FDI sẽ chịu ảnh hưởng lớn của nền kinh tế toàn cầu. Triển vọng của dòng FDI toàn cầu năm 2022 là tích cực, tuy nhiên ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, sự đứt gãy chuỗi cung ứng, giá năng lượng hay vấn đề lạm phát ở các nước đối tác đầu tư lớn của Việt Nam tăng sẽ tác động đến quyết định đầu tư, hay mở rộng quy mô của khối ngoại. Vì vậy, Việt Nam cần nghiên cứu xu hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI toàn cầu, để đưa ra chiến lược thu hút phù hợp. Trong xu thế công nghệ 4.0, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn… đang được chú trọng ở nhiều quốc gia, nên Việt Nam cần có các chính sách thu hút FDI những dự án trong các ngành công nghệ, năng lượng tái tạo... Đồng thời phát triển ngành logistcs, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam cắt giảm chi phí, nắm bắt được cơ hội xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế và chính sách thu hút đầu tư nhằm kết nối đầu tư giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Trong ngắn hạn, Việt Nam khó tận dụng được xu hướng dịch chuyển chuỗi đầu tư FDI do tác động bất định từ bên ngoài; trong khi nội lực bên trong chưa đủ sức tạo đột phá. Vì vậy cần những cải cách đột phá về thể chế nhằm thúc đẩy hoàn thiện hơn nữa môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh bình đẳng. Trong đó, chú trọng đến nguồn lực hỗ trợ cho tăng trưởng của thành phần kinh tế tư nhân trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và đặc biệt là quan tâm cho sự phát triển mô hình kinh doanh mới, sáng tạo, dựa trên ứng dụng nền tảng số, không gian số.

Hiện nay, các địa phương cả nước đều chú trọng thu hút FDI để tạo động lực phát triển; đồng thời đề ra các giải pháp nhằm chọn lọc nhà đầu tư, công nghệ, chú trọng công nghệ sạch, công nghệ cao, thân thiện môi trường. Nhiều địa phương đã trở thành điểm sáng trong thu hút vốn FDI tỉ đô trong 2 năm gần đây, có thể kể đến như: Long An, TP Cần Thơ, Bạc Liêu của khu vực ĐBSCL. Mới đây, tại Hội nghị công bố Báo cáo thường niên ĐBSCL do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright đã nêu lên những bất cập về vòng xoáy phát triển của ĐBSCL mà nhóm nghiên cứu Fulbright và VCCI Cần Thơ phát hiện thông qua khảo sát.

Theo đó, để ĐBSCL phát triển, việc tháo gỡ các nút thắt là quan trọng, nhưng đồng thời cũng phải không ngừng tìm kiếm những động lực phát triển mới. Trong hai năm (2020-2021), ngành năng lượng ở ĐBSCL nổi lên như một điểm sáng, tuy chiếm chưa tới 10% số dự án, song lại tiếp nhận tới hơn 60% tổng vốn FDI của toàn vùng. Các chuyên gia khuyến cáo, các địa phương cần xem xét kế hoạch và dự án phát triển năng lượng, chứ không nên chạy theo thành tích thu hút FDI hay những hứa hẹn thiếu cơ sở về tăng thu ngân sách thông qua thu hút vốn FDI. Với lợi thế đường bờ biển dài, dư địa cho phát triển điện gió ngoài khơi ở ĐBSCL rất rộng mở, đặc biệt ở các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh. Vậy nên cần có cơ chế, chính sách và cách tiếp cận mới để mở cánh cửa thu hút đầu tư FDI với ngành năng lượng sạch phục vụ cho sự phát triển của vùng.

GIA BẢO

Chia sẻ bài viết