Theo thống kê của ngành chức năng, có khoảng 70% dân số sống ở khu vực nông thôn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, vốn đầu tư công cho khu vực này lại giảm dần và việc thu hút đầu tư cho sản xuất nông nghiệp rất nhiêu khê
NGHỊCH LÝ ĐẦU TƯ
 |
|
Dù là vựa lúa, nhưng một số nơi ở ĐBSCL vẫn còn sản xuất lúa với phương pháp truyền thống.
|
Nông nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Ngay thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nông nghiệp vẫn phát triển tăng về số lượng lẫn giá trị. Kim ngạch xuất khẩu luôn tăng dần theo từng năm, đưa nhiều mặt hàng nông sản Việt Nam đứng vào tốp đầu các nước xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới. Tuy vậy, mức đầu tư vào nông nghiệp thời gian qua không tương xứng với vai trò của nó đối với phát triển kinh tế. Các thống kê cho thấy, những năm 2000, tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm khoảng 13,8% GDP; sau đó giảm còn 7,5% năm 2005 và còn 6,45% vào 2008, rồi 6,26% năm 2010.
Suốt nhiều năm liền, thủy sản, lúa gạo, hạt tiêu, nhân điều, cao su... trở thành các mặt hàng chủ lực xuất khẩu, góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế. Song, những người trực tiếp sản xuất- chiếm khoảng 70% dân số, lại hưởng rất ít những lợi nhuận từ sản phẩm mình làm ra và luôn gánh chịu nhiều rủi ro. Tại ĐBSCL, người nuôi trồng thủy sản và trồng lúa luôn đối mặt với những khó khăn về giá cả, đầu ra của sản phẩm. Việc định giá bán phụ thuộc vào doanh nghiệp, khi thị trường trầm lắng, nguồn nguyên liệu dồi dào, doanh nghiệp ngưng thu mua, tạo áp lực rất lớn cho những nông dân cần quay vòng vốn để tái đầu tư vụ mới. Điển hình như vụ lúa đông xuân 2010-2011, nhiều nông dân ĐBSCL không bán lúa được vào thời điểm thu hoạch rộ. Trong khi đầu vụ, giá lúa tăng vùn vụt, thương lái mua lúa tận đồng, mua lúa ướt với giá cao. Còn giá cá tra nguyên liệu hiện năm 2011 liên tục lập đỉnh ở mức cao, do diện tích nuôi giảm mạnh, nông dân treo ao vì thiếu vốn. Con tôm sú hiện cũng đang rơi vào tình cảnh tương tự...
Theo nhận định của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, Việt Nam phải phát triển kinh tế gắn với nông nghiệp. Chính nông nghiệp là yếu tố quan trọng để xóa đói giảm nghèo, làm tăng thu nhập cho nông dân. Vì thế, đầu tư vào lĩnh vực này là thật sự cần thiết. Trong điều kiện ngân sách có hạn, Nhà nước cần có sự đột phá về chính sách để thu hút các nguồn đầu tư, chú trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Bởi vì, nhà đầu tư nước ngoài đang chú ý đến lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam và xem đây là lĩnh vực đầu tư rất khả thi.
CẦN CHÍNH SÁCH HỢP LÝ
Tính đến đầu năm 2011, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có 478 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực nông- lâm- thủy sản, với tổng vốn đăng ký trên 3 tỉ USD, vốn điều lệ khoảng 1,5 tỉ USD. Con số này khá khiêm tốn, chỉ chiếm 3,8% số dự án và 2,3% vốn điều lệ của doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam. Vốn đăng ký đạt cao nhất là năm 1995 là 550 triệu USD, những năm gần đây, vốn FDI vào lĩnh vực này đang có chiều hướng giảm. Giai đoạn 1988 - 2008, bình quân mỗi năm thu hút khoảng 48 dự án với tổng vốn khoảng 235 triệu USD. Đến năm 2009, chỉ có 16 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng vốn đăng ký 62,4 triệu USD; năm 2010, giảm xuống còn 12 dự án, vốn đăng ký 11,3 triệu USD. Có thể nói, công tác xúc tiến đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp còn yếu và chưa có định hướng, chiến lược rõ ràng, nên không hấp dẫn nhà đầu tư. Một nguyên nhân khác là tập quán sản xuất manh mún, thiếu liên kết, nên không thể tạo ra vùng nguyên liệu quy mô lớn, sản lượng đồng đều.
Làm gì để nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân an tâm đầu ra và góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn là vấn đề được đề cập rất nhiều qua các hội nghị, hội thảo chuyên đề từ Trung ương đến địa phương. Cuối tháng 4-2011, tại tỉnh Đồng Tháp, Văn phòng Trung ương Đảng cùng với UBND tỉnh Đồng Tháp tổ chức hội thảo “Nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế” với sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành, bàn về hướng ra cho nông nghiệp Việt Nam. Theo bà Hoàng Thị Tư, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế- Văn phòng Trung ương Đảng, cần nghiên cứu kỹ và vận dụng hiệu quả các chính sách cam kết mà WTO cho phép để phát triển nông nghiệp và thu hút vốn FDI vào lĩnh vực này. Trong đó, chú trọng chính sách trợ cấp cho nông dân dưới hình thức cho vay ưu đãi để đầu tư phát triển vùng nguyên liệu; hỗ trợ nghiên cứu khoa học phục vụ chế biến; áp dụng hạn ngạch thuế quan thay thế cho biện pháp cấm và hạn ngạch đã dỡ bỏ để tiếp tục bảo hộ một số mặt hàng. Đồng thời, sử dụng thuế đánh theo mùa đối với một số mặt hàng nhập khẩu...
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp còn rất hạn chế. Đây là lĩnh vực cần thiết để ưu tiên đầu tư và kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì thế, phải có chiến lược khả thi để xúc tiến mời gọi đầu tư phù hợp với điều kiện của từng vùng sinh thái vùng ĐBSCL. Nông nghiệp Việt Nam đã có một vị thế nhất định trên thị trường thế giới, nhưng lại thua kém về chất lượng, nên giá trị thu về đạt thấp. Chỉ riêng mặt hàng lúa gạo, chi phí đầu tư ở ĐBSCL thấp hơn và năng suất cao hơn so với sản xuất tại Thái Lan, nhưng giá xuất khẩu gạo Việt Nam luôn thua kém Thái Lan. Tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch hiện vẫn còn ở mức cao, khoảng 13,7%. Nhiều chuyên gia cho rằng, thu hút vốn FDI vào nông nghiệp là một bước để giảm gánh nặng đầu tư của Chính phủ, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp Việt Nam. Vấn đề còn lại là phải chủ động trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, như vậy nông dân mới có thể giàu lên từ sản phẩm của mình.
Bài, ảnh: DU MIÊN