02/01/2016 - 16:31

AEC: Cơ hội lớn hơn cho Việt Nam

Ngày 31-12-2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức thành lập. AEC là một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN, cùng với cộng đồng Chính trị - An ninh, cộng đồng Văn hóa - Xã hội. Theo đánh giá, hiện AEC là khu vực phát triển sôi động trên thế giới với hơn 640 triệu dân, GDP của ASEAN dự kiến sẽ đạt 4.700 tỉ USD vào năm 2020. Theo dự báo, khu vực có tiềm năng trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới vào năm 2030. Nền kinh tế Việt Nam dù tăng trưởng chậm và nằm trong tốp 4 quốc gia phát triển thấp nhất trong ASEAN, nhưng môi trường kinh doanh quốc gia đã cải thiện rất mạnh mẽ thời gian qua, lạm phát được kiểm soát,… nên khi tham gia AEC, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn trong thị trường chung, cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời có thể tận dụng các hiệp định thương mại tự do của các nước đối tác ASEAN.

Thời gian qua, với lộ trình hội nhập, Việt Nam đã tiến hành cắt giảm thuế khá nhanh so với các nước trong nội khối. Theo Hiệp định ưu đãi thuế quan ATIGA, các nước ASEAN-6 (gồm: Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines) đã xóa bỏ gần 100% dòng thuế từ năm 2010, trừ một số sản phẩm được miễn trừ vĩnh viễn vì lý do an ninh quốc gia, đạo đức và sức khỏe. Đến nay, Việt Nam đã cắt giảm trên 10.000 dòng thuế xuống mức 0-5% theo ATIGA, chiếm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế, chỉ giữ lại 7% số dòng thuế đến năm 2018, bao gồm các mặt hàng ô tô và linh kiện, sắt thép, linh kiện và phụ tùng xe máy, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, xe đạp và phụ tùng, rượu bia, sản phẩm chất dẻo, giấy các loại. Từ năm 2018, Việt Nam chỉ còn được duy trì thuế nhập khẩu với mức thuế suất tối đa là 5% đối với khoảng 3% số dòng thuế, bao gồm phần lớn là các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm (gia cầm sống, thịt gà, trứng gia cầm, cây có múi, gạo lứt, thịt chế biến, đường). Theo số liệu của Bộ Công Thương, về xuất khẩu, ASEAN hiện là thị trường lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam, sau Mỹ và Liên minh châu Âu, với các mặt hàng chủ yếu gồm: gạo, dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, cao su, máy vi tính và các sản phẩm điện tử, sắt thép... Ở chiều nhập khẩu, ASEAN là đối tác cung cấp nguồn hàng hóa lớn thứ 3 cho các doanh nghiệp Việt Nam (sau Trung Quốc và Hàn Quốc). Năm 2015, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Việt Nam ước tính nhập siêu từ khu vực này khoảng 5,5 tỉ USD, tăng 45% so với năm 2014.

Theo nhận định của ngành chức năng và chuyên gia, khi tham gia AEC, doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội làm ăn, nhưng sức ép cạnh tranh cũng rất lớn. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải thay đổi, phải tự cải tổ để nâng cao năng lực cạnh tranh. Và phải tích cực tìm hiểu thị hiếu của thị trường ASEAN, phân tích cụ thể về năng lực cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ trong khu vực để có chiến lược hội đúng. Các nước ASEAN có lợi thế tương đồng về sản phẩm nông- thủy sản, dệt may, da giày… nên doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng này phải có sự chuẩn bị chu đáo khi tham gia thị trường "mua chung, bán chung" trong AEC. Mặt khác, với các cam kết về thị trường lao động, sự dịch chuyển tự do của lao động trong nội khối sẽ tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp Việt Nam; nguy cơ mất lao động lành nghề, kỹ thuật cao về tay các doanh nghiệp mạnh trong khối bằng chính sách đãi ngộ, tiền lương, môi trường làm việc. Do đó, ngoài tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm, doanh nghiệp Việt cần có chính sách giữ người hợp lý để không bị "chảy máu chất xám". Bởi AEC không phải là mục tiêu hội nhập duy nhất của Việt Nam mà còn rất nhiều các Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với đối tác và Việt Nam với nhiều quốc gia cũng sẽ tạo ra nguồn lực phát triển mới cho Việt Nam trong tương lai.

GIA BẢO

Chia sẻ bài viết