06/08/2026 - 19:16

Ông Đào Chí Nghĩa, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc 

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 6-8, Quốc hội thảo luận ở tổ. Ông Đào Chí Nghĩa, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, tham gia đóng góp một số ý quan trọng về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.

Đào Chí Nghĩa góp ý về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc, tại thảo luận tổ

Đại biểu Đào Chí Nghĩa thống nhất với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và cải cách thủ tục hành chính. Nếu tiếp thu các nội dung trên thì dự thảo Luật sẽ đạt được 3 mục tiêu quan trọng: Thứ nhất, phân cấp nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chất lượng quản lý nhà nước; Thứ hai, tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động kiến trúc, hạn chế lợi ích nhóm; Thứ ba, phát triển đội ngũ kiến trúc sư theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế nhưng vẫn bảo đảm chất lượng chuyên môn. Tuy nhiên, đại biểu góp ý vào 3 nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, Điều 14 quy định về Quy chế quản lý kiến trúc. Đại biểu đồng tình với việc giao nhiều thẩm quyền hơn cho chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã trong việc lập và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc. Tuy nhiên, việc phân cấp cần đi đôi với điều kiện bảo đảm thực hiện. Theo dự thảo, UBND cấp xã được giao trực tiếp lập và ban hành Quy chế quản lý kiến trúc trên địa bàn quản lý. Qua báo cáo thẩm tra, nhiều ý kiến cũng băn khoăn rằng cấp xã hiện nay còn hạn chế về nguồn nhân lực chuyên môn, kinh phí và kinh nghiệm để xây dựng một quy chế có chất lượng; nếu thực hiện không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng mỗi địa phương ban hành một kiểu, ảnh hưởng đến không gian kiến trúc liên vùng. Do đó, đề nghị chỉnh lý khoản 4 Điều 14 theo hướng giao UBND cấp xã tổ chức lập Quy chế quản lý kiến trúc nhưng trước khi ban hành phải có ý kiến thẩm định hoặc thống nhất của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; giao UBND cấp tỉnh ban hành Khung Quy chế quản lý kiến trúc mẫu để các địa phương áp dụng thống nhất. Quy định như vậy vừa bảo đảm phân cấp, vừa kiểm soát chất lượng chuyên môn và tránh phát sinh bất cập trong thực tiễn.

Thứ hai, Điều 17 quy định thi tuyển, tuyển chọn kiến trúc. Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo mở rộng phạm vi thi tuyển đối với các công trình có giá trị kiến trúc và công trình điểm nhấn đô thị. Tuy nhiên, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 17 còn mang tính định tính. Các khái niệm như “công trình điểm nhấn”, “công trình biểu tượng”, “tuyến đường chính” chưa có tiêu chí pháp lý cụ thể. Nếu giao hoàn toàn cho từng địa phương xác định sẽ rất dễ dẫn đến cách hiểu khác nhau, thậm chí phát sinh cơ chế xin - cho. Đề nghị bổ sung ngay trong Luật nguyên tắc xác định các công trình phải thi tuyển kiến trúc; trường hợp cần quy định chi tiết thì Chính phủ ban hành bộ tiêu chí thống nhất trên phạm vi cả nước. Đồng thời, nên quy định rõ hơn trách nhiệm công khai về hồ sơ thi tuyển, kết quả chấm điểm, biên bản Hội đồng, phương án được lựa chọn trên cổng thông tin điện tử nhằm bảo đảm minh bạch, phòng ngừa lợi ích nhóm trong lựa chọn phương án kiến trúc.

Thứ ba, Điều 21 quy định năng lực hành nghề kiến trúc. Khoản 2 Điều 21 quy định cá nhân phải được đào tạo về “chuyên ngành kiến trúc và xây dựng”. Tuy nhiên, Báo cáo thẩm tra đã chỉ rõ hiện nay hoạt động kiến trúc đã mở rộng sang thiết kế cảnh quan, thiết kế nội thất và nhiều lĩnh vực liên ngành; nếu quy định cứng như dự thảo sẽ vô tình thu hẹp phạm vi nguồn nhân lực và chưa phù hợp với thực tiễn phát triển nghề nghiệp. Đề nghị sửa khoản 2 Điều 21 cụ thể như sau: “Được đào tạo về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực hành nghề kiến trúc” thay vì quy định cứng là “kiến trúc và xây dựng”, vì quy định này vừa bảo đảm chất lượng chuyên môn, vừa phù hợp xu hướng phát triển đa ngành của nghề kiến trúc hiện nay. Đề nghị nghiên cứu bổ sung cơ chế đánh giá năng lực nghề nghiệp theo lộ trình, kết hợp giữa kinh nghiệm thực tiễn, đào tạo liên tục và cơ sở dữ liệu số để quản lý thay vì chỉ dựa vào điều kiện đầu vào.

Chia sẻ bài viết