 |
|
Bà Nguyễn Thanh Giang, Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội HĐND thành phố trao đổi việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội cho người cao tuổi với ông Lê Văn Nghị, ấp Trường Thắng, xã Trường Thành, huyện Cờ Đỏ. |
Ngày 13-4-2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2007/NĐ-CP (NĐ 67) về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội. Sau gần 2 năm thực hiện chính sách của Chính phủ, nhiều đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố đã được trợ giúp kịp thời, góp phần giảm thiểu khó khăn cho các đối tượng thụ hưởng chính sách. Tuy nhiên, qua giám sát của Ban Văn hóa - Xã hội (VH-XH) HĐND thành phố tại sở Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) và một số xã, phường trong thành phố, cho thấy xung quanh vấn đề triển khai thực hiện Nghị định này vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất, cần khắc phục, như: một số địa phương bình chọn chưa đúng đối tượng, sót đối tượng, việc cấp phát tiền hàng tháng tiềm ẩn nguy cơ tiêu cực,...
* CHÍNH SÁCH ĐÚNG
NĐ 67 có ý nghĩa rất lớn đối với nhiều người có cảnh đời bất hạnh, chịu nhiều thiệt thòi, qua đó nhiều đối tượng được hưởng bảo hiểm y tế, trợ cấp tiền để trang trải một phần cuộc sống. Bà Lâm Nhật Phượng, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH thành phố, cho biết: “Ngay sau khi có văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định, Sở chỉ đạo bộ phận chuyên môn tổ chức triển khai và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ TB&XH cấp quận, huyện, xã, phường về chế độ, thủ tục xét thủ trợ cấp thường xuyên, trợ cấp đột xuất, quy trình rà soát, đối tượng rà soát, biểu mẫu,...”. UBND, HĐND thành phố cũng kịp thời bố trí kinh phí để thực hiện chính sách, theo quy định của Chính phủ.
NĐ 67 sớm đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Mặc dù số tiền hỗ trợ không nhiều, nhưng đối với nhiều hộ dân, đó là sự giúp đỡ thiết thực và có ý nghĩa động viên cổ vũ rất lớn. Ông Lê Văn Nghị, ấp Trường Thắng, xã Trường Thành, huyện Cờ Đỏ, có một người con bị tàn tật, bộc bạch: “Gia đình tôi nghèo, con cái ra riêng, tôi và vợ tôi cũng bước qua tuổi 70, mất khả năng lao động. Số tiền 120.000 đồng/tháng tuy không nhiều, nhưng giúp chúng tôi khắc phục phần nào khó khăn trong việc chăm sóc cho đứa con tật nguyền của mình. Hơn nữa, nhờ chính sách của Chính phủ, con tôi có bảo hiểm y tế, đau ốm được điều trị miễn phí”. Tiếp xúc với các thành viên đoàn giám sát, ông Nguyễn Văn Vững, 86 tuổi, cùng ấp Trường Thắng, xã Trường Thành huyện Cờ Đỏ, chia sẻ: “Tuổi cao, sức yếu đâu có làm gì ra tiền. Cái gì cũng chìa tay xin con cháu, ái ngại lắm. Nhờ chính sách hỗ trợ người cao tuổi của Chính phủ, mỗi tháng tôi được lãnh 120.000 đồng. Tôi mừng lắm!”.
Ông Trần Văn Chính, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Thành, nói: “Số tiền mà các cá nhân, gia đình lãnh hằng tháng tuy không nhiều, nhưng là nguồn động viên to lớn cho các gia đình vượt khó. Ý thức được ý nghĩa của chính sách này, Đảng ủy, UBND xã chỉ đạo cán bộ phụ trách, các đoàn thể, Trưởng ấp,... thường xuyên rà soát, cập nhật đối tượng, phát tiền trợ cấp đúng thời gian quy định,...”. Theo báo cáo của Sở LĐ-TB&XH thành phố, đến cuối năm 2008, toàn thành phố có 9.598 người được hưởng trợ cấp thường xuyên, với mức hỗ trợ từ 120.000 đồng - 360.000 đồng/người/tháng, tùy trường hợp.
* TỔ CHỨC THỰC HIỆN: NHIỀU HẠN CHẾ
Qua giám sát, nhìn chung thời gian qua việc thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội được triển khai thực hiện tương đối tốt. Quy trình xét duyệt hồ sơ, quản lý đối tượng chặt chẽ, đảm bảo các quy định hiện hành. Tuy nhiên, quá trình thực hiện, từng lúc từng nơi vẫn còn những hạn chế nhất định cần khắc phục. Tại buổi làm việc của Ban VH-XH HĐND thành phố, lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH thành phố thừa nhận: Một số quận, huyện, xã, phường chưa nghiên cứu kỹ các chế độ chính sách dẫn đến tình trạng nhận diện chưa đúng đối tượng (năm 2007, kết quả điều tra có 10.953 đối tượng được đề nghị trợ cấp, nhưng khi xem xét chỉ có 9.598 đối tượng được hưởng trợ cấp). Hằng tháng, lượng tiền mặt dùng để chi trả trợ cấp lớn, nhưng các địa phương chỉ cử một cán bộ chi trả nên dễ phát sinh tiêu cực,... Mặt khác, do trước năm 2007, thành phố chỉ có 3 đối tượng trợ cấp (2.194 người), nay tăng lên 9 đối tượng, số người hưởng trợ cấp nhiều hơn gấp 5 lần trước đó, nhưng cán bộ làm công tác TB&XH xã, phường lại được phân công kiêm nhiệm nên chưa quán xuyến hết công việc, lập hồ sơ trợ cấp chậm, áp dụng chưa đúng hệ số... Trong khi đó, năm 2008, Sở chỉ có công văn nhắc nhở mà không tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời.
Ngoài những hạn chế như Sở LĐ-TB&XH thành phố đã đề cập, trước khi tiến hành giám sát tại Sở LĐ-TB&XH, Đoàn giám sát của Ban VH-XH HĐND thành phố đã giám sát tại 11 xã, phường của các huyện Cờ Đỏ, Phong Điền và quận Ninh Kiều; đồng thời, trực tiếp gặp gỡ nhiều đối tượng thụ hưởng chính sách theo quy định. Bà Nguyễn Thanh Giang, Trưởng Ban VH-XH HĐND thành phố, Trưởng Đoàn giám sát, cho biết: “Qua giám sát, Đoàn giám sát nhận thấy còn nhiều vấn đề cần phải rút kinh nghiệm để việc thực hiện được tốt hơn thời gian tới”.
Về việc tổ chức cấp phát, qua giám sát, cho thấy nhiều xã, phường cán bộ TB&XH kết hợp cùng với các hội, đoàn thể, cán bộ khu vực, ấp mời đối tượng tập trung về một điểm để cấp phát để hạn chế tiêu cực có thể xảy ra. Nhưng cũng có một số địa phương “khoán trắng” cho cán bộ phụ trách TB&XH một mình mang tiền mặt, cấp phát cho từng đối tượng. Đoàn giám sát cũng ghi nhận có nơi giao cho từng Hội, đoàn thể tự nhận tiền về cấp cho đối tượng (đối tượng người cao tuổi, thì Hội Người cao tuổi nhận tiền về cấp phát lại; đối tượng là hộ nghèo thì giao cho cán bộ phụ trách công tác xóa đói giảm nghèo,...) tạo ra sự bất nhất giữa các địa phương. Trong khi đó, việc kiểm tra, giám sát của UBND xã, phường không được thường xuyên, để nảy sinh tiêu cực.
Cũng theo bà Nguyễn Thanh Giang, đối với quy trình xét duyệt đối tượng, các địa phương phải thành lập hội đồng xét duyệt, nhưng qua giám sát, nhiều địa phương không thành lập hội đồng xét duyệt theo quy định; việc xét đối tượng còn cảm tính, dẫn đến tình trạng xét duyệt không đúng đối tượng. Quá trình giám sát, tìm hiểu thực tế ngẫu nhiên các trường hợp thụ hưởng, Đoàn giám sát phát hiện có trường hợp người bị tai nạn giao thông, không phải là hộ nghèo lại được xét duyệt, đưa vào danh sách đối tượng hưởng trợ cấp thường xuyên dành cho người tàn tật; có gia đình hai vợ chồng ly hôn, nhưng chính quyền địa phương lại xét duyệt cho con của họ hưởng chế độ trẻ mồ côi; có địa phương lại gộp tất cả các đối tượng lại hưởng cùng 1 mức trợ cấp, trong khi quy định có tới 6 mức trợ cấp áp dụng cho từng loại đối tượng;...
Việc quản lý hồ sơ đối tượng ở một số địa phương cũng chưa tuân thủ đúng quy định, mà “mỗi nơi mỗi cách”. Theo quy định, mỗi xã, phường đều được cấp một “sổ cái để theo dõi, cập nhật đối tượng, nhưng khi giám sát, nhiều nơi không có “sổ cái”, hoặc chỉ có bản danh sách đơn giản. Quy định phát tiền hằng tháng cho các đối tượng, nhưng có nơi, lúc gộp 2 tháng phát 1 lần, lúc lại 4 tháng phát 1 lần..., trong khi hầu hết các đối tượng đều gặp khó khăn về tài chính. Ngoài ra, Đoàn giám sát cũng nhận thấy có địa phương ghi chép biên lai cấp phát tiền trợ cấp cho đối tượng một cách qua loa, đại khái; thậm chí, có hàng loạt biên lai (đã phát tiền) chỉ có chữ ký của người cấp phát, mà không có chữ ký nhận của người được nhận. Công tác quản lý, giám sát thực hiện của UBND xã lỏng lẻo, nên đã có trường hợp cán bộ phụ trách cấp phát đã cấp phát không đúng đối tượng, lập khống danh sách đối tượng, chiếm dụng ngân sách, bị kỷ luật, gây dư luận xấu về việc thực hiện chế độ chính sách đối với các đối tượng yếu thế của xã hội.
Đoàn giám sát đã đề nghị các địa phương cần công khai niêm yết danh sách đối tượng thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội ở các nhà thông tin ấp, khu vực, xã, phường để người dân cùng tham gia giám sát, phát hiện sai sót; đảm bảo thực hiện đúng, đủ đối tượng theo quy định, khắc phục hạn chế, thiếu sót để việc thực hiện chính sách đối với các đối tượng bảo trợ xã hội tốt hơn, công bằng hơn. Ông Phạm Văn Hiểu, Phó Chủ tịch HĐND thành phố, nói: “Đối tượng thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội đã chịu nhiều thiệt thòi, cần được xã hội chăm sóc, do đó việc xét duyệt, rà soát, cập nhật đối tượng phải chính xác, đảm bảo đúng đối tượng, không sót đối tượng. Quy trình thủ tục, việc quản lý hồ sơ, sổ sách, chứng từ phải được hướng dẫn thực hiện thống nhất, đồng bộ đúng quy trình trên phạm vi toàn thành phố. Mặt khác, ngành LĐ-TB&XH cần có kế hoạch nâng cao trình độ cán bộ làm công tác TB&XH để đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Chính phủ đối với các đối tượng thụ hưởng”.
Bài, ảnh: QUỐC TRƯỞNG
|
Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13-4-2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, bao gồm các nhóm đối tượng sau đây: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích, hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo; người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội; người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo; người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo; người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo; gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; hộ gia đình có từ 2 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ; người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi... |