Ghi chép
* Quốc Trưởng
Có lẽ không quá lời nếu dùng hai chữ “đổi đời” để nói về cuộc sống của người dân ở những vùng thôn quê tôi đã đi qua. Ở đó, những tuyến đường láng nhựa về tận xã, ấp; những thôn xóm đêm đêm sáng rực ánh đèn, rộn rã tiếng phát thanh viên chương trình thời sự, tiếng đàn hát vọng ra từ ti-vi
Sự thay đổi ấy không phải đến trong một ngày một bữa, mà đó là sự cộng hưởng của cả quá trình quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước và nỗ lực của chính quyền địa phương để tạo sức bật cho nông thôn, cùng với sự táo bạo trong cách nghĩ, cách làm và tính cần mẫn của nông dân. Nông thôn ĐBSCL chưa phải đã hết những khó khăn, vất vả, nhưng những gì đạt được hôm nay đã chứng tỏ rằng mùa vui - mùa ấm no, hạnh phúc - đang về cùng với mùa xuân của trời đất
 |
|
Nhân dân ấp 6, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ đóng góp hơn 100 triệu đồng xây dựng 2 cây cầu bê tông trong ấp.
Ảnh: XUÂN ĐÀO |
1. Nhìn trên bản đồ, mạng lưới giao thông huyện Cờ Đỏ như hình cây quạt xòe ra với điểm hội tụ là thị trấn Cờ Đỏ. Từ đây, có thể theo tỉnh lộ 922 về Ô Môn, đi Cần Thơ; rẽ về tỉnh lộ 921 đi Thốt Nốt, Long Xuyên (An Giang); cũng có thể theo đường Bốn Tổng- Một Ngàn đi Rạch Giá (Kiên Giang), Châu Thành A, Vị Thanh (Hậu Giang); hoặc rẽ về Thới Đông đi Giồng Riềng (Kiên Giang)... Trong câu chuyện phiếm, người dân ở thị trấn Cờ Đỏ thường nói đùa với nhau: “Hồi đó, không có đường mà đi. Còn bây giờ chỉ lo hết tiền mua xăng chạy xe, chứ không lo hết đường đi...”.
Từ thị trấn Cờ Đỏ, theo tỉnh lộ 922 đến xã Đông Hiệp, rẽ vào tuyến đường chạy dọc kinh KH 6, tôi đến nhà lão nông Bảy Thọ (Phạm Văn Thọ), một nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, tiên phong trong phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở ấp 1, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ. Trong tiết trời se lạnh cuối năm, ông Bảy chăm chú nhặt từng chiếc lá trên cội mai vàng cổ thụ trước hiên nhà. Nghe tôi hỏi năm nay ăn Tết lớn hay sao mà chuẩn bị chu đáo vậy, ông cười sảng khoái: “Tranh thủ lúc rảnh chăm chút cành mai, tỉa lại hàng rào, chứ vào độ đưa ông Táo về trời là cả nhà ai cũng bận rộn, vì phải lo cắt hoa giao cho thương lái”. Đã 5 cái Tết rồi, gia đình ông Bảy luôn chuẩn bị Tết thật sớm, nhưng lại ăn Tết muộn hơn những nhà khác. Ông chỉ tay ra rẫy huệ đang độ trổ bông, những nụ hoa trắng nõn tỏa hương ngan ngát, giọng đầy tự hào: “Tất cả là do “mấy đứa con cưng” này đây! Nhờ “tụi nó” mà gia đình khấm khá lên, mua sắm xe máy, tiện nghi đầy đủ...”.
Năm 2004, một lần đi thăm người quen ở Bình Thủy, thấy trồng huệ “có ăn” hơn trồng lúa, ông Bảy về trồng “thử nghiệm” 1 công. Không ngờ thành công ngoài mong đợi, ông lên liếp 5 công ruộng trồng huệ. Năm đầu tiên, 5 công huệ mang về cho ông trên 30 triệu đồng tiền lãi, gấp 4-5 lần so với trồng lúa. Từ đó, ông Bảy cứ nhân diện tích trồng huệ lên, có lúc đến 1,5 ha, thu lãi hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Ông Bảy nói: “Nhờ hệ thống đê bao khép kín, chủ động nước tưới tiêu, đường sá, thông tin liên lạc cũng thuận lợi hơn, nên tôi mới chuyển sang trồng huệ được”. Bên cạnh cây lúa nước truyền thống, gần đây nhiều nông dân Cờ Đỏ đã mạnh dạn chuyển sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao khác. Nhờ đó, giá trị sản xuất bình quân trên lĩnh vực nông nghiệp từ 32 triệu đồng/ha/năm vào năm 2004 tăng lên gần 60 triệu đồng/ha vào năm 2008.
Khi đã nhẹ gánh “áo cơm”, người nông dân càng tích cực, nhiệt tình trong xây dựng quê nhà. Ở huyện Cờ Đỏ, bà con đã đóng góp hàng chục tỉ đồng xây dựng đường giao thông nông thôn. Tết này, người dân các ấp Định Phước, Định Thành, Định Khánh A của xã Định Môn được đi lại trên tuyến đường giao thông dài 7,3 km vừa nâng cấp do chính mình đóng góp kinh phí xây dựng. Ông Nguyễn Thành Bé, Phó Trưởng ấp Định Thành, kể: “Hồi đầu năm, xã vận động bà con đóng góp tiền để làm đường. Có gia đình đóng góp 4-5 triệu đồng, nhưng không ai đắn đo, suy tính thiệt hơn”. Từ khi có con đường mới, người dân đi lại dễ dàng, công việc làm ăn cũng thuận lợi. Ông Trần Kim Tài, ở ấp Định Phước, có con trai làm công nhân ở Khu công nghiệp Trà Nóc. Trước đây, đường sá đi lại khó khăn, con ông ở trọ tại Bình Thủy để đi làm. Bây giờ, con ông cùng mấy người bạn trong xóm rủ nhau đi đi - về về, mỗi tháng đỡ tốn mấy trăm ngàn tiền trọ, khi xuống ca lại còn có thể giúp ông chuyện đồng áng...
Những tuyến đường mở ra đã mang theo bao cơ hội đổi đời. Như tuyến đường Bốn Tổng- Một Ngàn nối thị trấn Vĩnh Thạnh với thị trấn Cờ Đỏ, dài 13 km, với tổng mức đầu tư trên 400 tỉ đồng, được xem là công trình có quy mô lớn nhất ở ngoại thành Cần Thơ, hiện đã láng nhựa được khoảng 5 km đoạn qua địa phận xã Thạnh Quới và thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh. Nhiều người dân ấp Vĩnh Lộc, thị trấn Vĩnh Thạnh, nói rằng mấy năm trước, có nằm mơ họ cũng không nghĩ ở cái nơi cách trung tâm thành phố hơn 70 km, lại có ngày trước nhà mình sẽ là tuyến đường nhựa thênh thang, cận kề trung tâm thương mại, các khu dân cư... Hệ thống chiếu sáng công cộng dài gần 2 km chạy ngang qua đây cũng vừa được đóng điện, ban đêm sáng rực, khiến nhiều lão nông mới canh 3 đã giật mình thức giấc, cứ ngỡ trời đã hửng sáng! Ông Nguyễn Văn Dũng, ở ấp Vĩnh Lộc, thị trấn Vĩnh Thạnh, hào hứng: “Bao đời nay sống chết với cây lúa, bỗng dưng trở thành cư dân đô thị nên phải tính chuyện chuyển đổi cách thức làm ăn cho hợp thời. Trước mắt, tôi mở quán cà phê, sắp tới sẽ khai trương thêm cửa hàng tạp hóa... Lúc đầu, có thể còn vắng vẻ, nhưng tôi tin dần dần cũng sẽ tấp nập thôi. Nước lên thì thuyền lên mà!”.
“Nước lên, thuyền lên”- cái triết lý ấy đang được cụ thể hóa một cách sinh động tại huyện Vĩnh Thạnh. Trước năm 1990, phần lớn nông dân nơi đây chỉ trồng một vụ lúa mùa, năng suất chưa được 2 tấn/ha/năm. Kết cấu hạ tầng chắp vá. Năm 2004, huyện Vĩnh Thạnh được thành lập, lúa vẫn là cây trồng chủ lực. Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh, khẳng định: “Chúng tôi xác định đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phương thức sản xuất, hướng đến nền nông nghiệp chất lượng cao là khâu đột phá để “đẩy” đời sống của bà con đi lên”. Sau 5 năm, Vĩnh Thạnh đã có 43 km đường giao thông cấp huyện, 153 km đường giao thông nông thôn, hệ thống đê bao khép kín được trên 90% diện tích đất sản xuất...
Đối với nhiều nông dân, việc ứng dụng tiến bộ khoa học là cứu cánh để đổi đời. Ông Trần Văn Thanh, thành viên tổ hợp tác Quy Lân 2, ấp Quy Lân, xã Thạnh Mỹ, nhớ lại: “Trước đây, ruộng ai nấy làm, giống mua trôi nổi, năng suất thấp. Năm 2005, khi hệ thống đê bao của ấp được xây dựng, chúng tôi tham gia tổ hợp tác, tổ chức bơm tưới tập thể, được hướng dẫn kỹ thuật canh tác, chi phí giảm mà năng suất lại tăng qua từng vụ. Vụ đông xuân, có người đạt gần 10 tấn/ha”. Ông Thanh còn tự hào, nhờ sử dụng giống lúa Jasmine, một loại giống đạt chất lượng xuất khẩu, mà trong đợt “dội” hàng, lúa bán không được vừa qua, ông vẫn bán được lúa với giá cao hơn lúa thường 500-600 đồng/kg.
Khi những cánh đồng lúa mênh mông ở các huyện đầu nguồn “cong trái me”, thì những làng hoa nổi tiếng ven đô, những vườn cây ăn trái, rẫy rau màu bạt ngàn ở “vành đai xanh” Phong Điền, Bình Thủy cũng nở bừng đủ sắc màu, đang vào mùa thu hoạch. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm, đổi lại nhiều mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp ra đời. Hợp tác xã Rau sạch Long Tuyền (phường Long Tuyền, quận Bình Thủy) là một điển hình.
Tôi đến thăm Hợp tác xã Rau sạch Long Tuyền vào buổi sáng sớm, khi những giọt sương mai còn đọng long lanh trên những luống rau thẳng tắp, cánh đồng của hợp tác xã như một bức tranh. Anh Nguyễn Văn Tám, một trong 13 thành viên của hợp tác xã, cho biết mọi chuyện bắt đầu từ năm 2004. Khi ấy, thấy một vài hộ ở khu vực Bình Thường chuyển sang trồng dưa hấu hiệu quả, nhiều nông dân làm theo. Được sự hỗ trợ về kỹ thuật của Trường Đại học Cần Thơ, nhiều loại rau màu được đưa vào trồng với diện tích hơn 10 ha. Năm 2005, một siêu thị lớn ở Cần Thơ đặt vấn đề sản xuất rau sạch để cung cấp cho siêu thị. Hướng đi mới đã mở ra cùng với thách thức mới: Sản phẩm phải đạt yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm... Anh Tám cho biết: “Từ khâu chọn giống, chăm sóc, thu hoạch đến vận chuyển đều được quản lý chặt chẽ. Ban đầu, nhiều thành viên thấy khó, ngán ngại, nhưng rồi thấy thu nhập tăng 3-4 lần, lại được bao tiêu, không dội hàng, nên ai cũng phấn khởi”. Quy trình GAP trong sản xuất rau an toàn được các thành viên hợp tác xã áp dụng triệt để. Hiện nay, ngoài việc cung cấp rau màu an toàn cho siêu thị, sản phẩm của hợp tác xã còn được tiêu thụ ở nhiều chợ trung tâm thành phố.
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất gắn với thị trường cũng là một trong những vấn đề đang được lãnh đạo và nông dân các huyện Thốt Nốt, Phong Điền quan tâm triển khai. Ở Phong Điền, dự án thủy lợi, đê bao khép kín phục vụ 500 ha rau màu tại xã Nhơn Nghĩa vừa hoàn chỉnh. Nhiều hộ dân đã chuyển hẳn từ trồng lúa sang trồng màu. Một số nông dân khác lại tận dụng lợi thế vườn cây ăn trái trĩu quả để làm du lịch sinh thái. Ông Lê Bá Phước, Chủ tịch UBND huyện Phong Điền, cho biết: “Ngay từ khi thành lập huyện, lãnh đạo huyện đã xác định xây dựng vườn cây ăn trái đặc sản, phát triển vùng trồng rau màu, du lịch là thế mạnh của địa phương”. Phong Điền đang thu hút du khách đến thăm bởi hương vị ngọt ngào của vú sữa Lò Rèn, dâu Hạ Châu, bưởi da xanh... và nét dân dã của các vườn du lịch Giáo Dương, Mỹ Khánh...
2. ... Nhìn những chiếc xe gắn máy mới tinh, chạy bon bon trên mặt đường “láng o” từ trung tâm xã Kim Hòa (huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh) về ấp Năn Nơ, mấy ai biết rằng cách đây chừng hai tháng, tuyến đường này chỉ là con đường mòn, khúc khuỷu. Anh Thạch Nghị, ở ấp Năn Nơ, khoe chiếc xe mới cáu: “Mình vừa trúng mùa đậu phộng, sắm được con “quây anh-pha” này. Năm ngoái, đèn điện thay cho đèn dầu, năm nay đường xi măng thay cho đường đất. Còn gì vui bằng!”. Anh Thạch Nghị thuộc lớp nông dân ham học hỏi, dễ thích nghi với cái mới. Trước đây, anh trồng dưa hấu giống truyền thống nhưng cứ thất mùa liên miên, có lúc anh phải cố đất, đi làm thuê. Được chính quyền hỗ trợ vốn chuộc lại 4 công đất giồng và được cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật, anh Nghị chuyển sang trồng đậu phộng từ 3 năm nay. Mỗi năm, 1 công đậu phộng mang lại cho anh lãi từ 4- 5 triệu đồng. Anh Nghị tâm sự: “Bây giờ, chưa phải dư dả gì, nhưng cuộc sống đã tạm ổn, vợ chồng tôi bàn bạc ráng lo cho 2 thằng con trai học hành đàng hoàng...”.
Tuyến đường Kim Hòa- Năn Nơ dài gần 2 km, do Cơ quan phát triển của Liên Hiệp Quốc tài trợ 1,2 tỉ đồng, nhân dân đóng góp thêm 120 triệu đồng. Khi tuyến đường này hoàn thành, 100% khu dân cư của Kim Hòa có đường giao thông. Anh Huỳnh Hữu Công, Chủ tịch UBND xã Kim Hòa, ví những tuyến giao thông như huyết mạch nuôi sống, tạo sức bật cho Kim Hòa phát triển. Để minh chứng cho sự ví von của mình, anh Công mời tôi đến thăm làng bánh tét Trà Cuôn. Từ xa, hương bánh tét thoang thoảng khiến khách qua đây không khỏi rạo rực trong lòng. Anh Công khoe: “Mỗi ngày, Trà Cuôn cung cấp cho thương lái khoảng 1 tấn bánh. Bánh tét Trà Cuôn có mặt ở khắp các tỉnh, thành ĐBSCL và cả thành phố Hồ Chí Minh. Chính hương vị thơm ngon cộng thêm đường sá thuận lợi đã giúp danh tiếng bánh tét Trà Cuôn đi xa được như thế!”.
 |
|
Từ nguồn vốn đầu tư của Chương trình 135, Trạm Y tế xã Kim Hòa huyện Cầu Ngang (Trà Vinh) được xây dựng khang trang.
Ảnh: TRẦN PHƯƠNG |
Không chỉ đường sá, Trạm Y tế xã Kim Hòa khá bề thế vừa được xây dựng từ Chương trình 135 của Chính phủ đã tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân tốt hơn. Bác sĩ Huỳnh Văn Thanh, Trưởng trạm Y tế xã Kim Hòa, cho biết: “Mỗi ngày trạm tiếp nhận khám, chữa bệnh và cấp thuốc cho vài chục bệnh nhân. Người dân nơi đây được khám chữa bệnh miễn phí hoàn toàn”. Nói về Trạm Y tế Kim Hòa, nhiều người dân nơi đây bày tỏ sự hài lòng. Ông Thạch Phone, 65 tuổi, nói: “Tôi già, nên cứ nay ốm mai đau. Cũng nhờ các thầy thuốc ở đây khám bệnh, cho thuốc và dặn dò kỹ nên tôi rất an tâm”. Cách trạm y tế không xa là ngôi trường tiểu học khang trang ngày hai buổi ê a tiếng trẻ học bài.
Chứng kiến sự đổi thay của Kim Hòa, một xã có gần 70% dân số là đồng bào dân tộc Khmer, không thể ngờ trước năm 2001, 49% hộ dân của xã thuộc diện hộ nghèo. Khi ấy, nhắc đến Kim Hòa, người ta nghĩ đến giao thông trắc trở, đời sống khó khăn. Còn bây giờ, Kim Hòa là xã duy nhất của huyện Cầu Ngang rút tên khỏi Chương trình 135 trong năm 2008. Anh Huỳnh Hữu Công phân tích: “Hiện nay, toàn xã có trên 80% hộ dân sử dụng điện, nước sạch, 85% hộ đạt chuẩn gia đình văn hóa, các chùa đều có tủ sách pháp luật... Đó là thành quả từ sự đầu tư mạnh mẽ của Chương trình 135, 134 và các chương trình quốc gia khác”. Nhờ những chương trình này, điện- đường- trường- trạm của Kim Hòa dần được hoàn chỉnh. Ngoài trạm y tế, 5 trạm cung cấp nước, xã còn có 64 phòng học kiên cố được xây dựng mới; lưới điện quốc gia phủ kín địa bàn dân cư... Ngoài ra, hằng năm Ngân hàng Chính sách xã hội còn phát vay gần 4 tỉ đồng, cùng với chương trình trợ giá, trợ cước của Chính phủ hỗ trợ cho nông dân thêm gần 1 tỉ đồng để sản xuất. Với đà đầu tư như vậy, mỗi năm Kim Hòa giảm được từ 3-4% hộ nghèo.
Cũng chung niềm vui được xóa tên khỏi danh sách xã đặc biệt khó khăn, nhưng Tết này bà con xã Ngọc Biên, huyện Trà Cú, càng phấn khởi hơn khi cùng lúc được đón nhận danh hiệu “Xã Văn hóa”. Anh Lâm Phước An, Chủ tịch UBND xã Ngọc Biên nói: “Sự kiện này là “song hỷ lâm môn”. Dù còn khó khăn, nhưng đời sống của bà con mình đã qua khỏi “khúc ngặt” nhất rồi”.
Cuối năm 1982, xã Ngọc Biên được thành lập sau khi chia tách từ xã Long Hiệp. Gần 75% dân số là người dân tộc Khmer. Khi mới chia tách, cơ sở hạ tầng của Ngọc Biên thấp kém, thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào cây lúa, nhưng chỉ làm được 1 vụ, năng suất từ 8 10 giạ/công. Toàn xã có đến 50% số hộ nghèo phải cứu đói vào giáp hạt. Năm 2000, khi được Chương trình 135 đầu tư, Ngọc Biên vẫn còn 47% hộ nghèo. 8 năm sau, số hộ nghèo giảm còn 29%. Hiện tại, 96% hộ dân của xã sử dụng nước sạch, bình quân 23 hộ có 1 máy điện thoại, cứ gần 3 hộ có 1 ti-vi... Ngoài cây lúa, hai loại cây trồng chủ lực của Ngọc Biên là đậu phộng, bắp lai. Đàn bò của Ngọc Biên lớn nhất huyện Trà Cú, với 4.200 con.
Đi trên hương lộ 25 từ trung tâm xã Ngọc Biên về ấp Sà Vần A, lòng tôi không khỏi rộn lên niềm vui khi thấy xe cộ dập dìu, những ngôi nhà tường mái tôn, mái ngói đã thay cho những ngôi nhà tranh vách đất của mươi năm về trước. Ngay cả những ngôi tha la (nhà dựng lên ven đường để cho các nhà sư dừng chân nghỉ mệt, trú mưa) bằng cây, lợp lá trước đây cũng đã được thay bằng cột bê-tông, lợp tôn hoặc ngói khang trang. Về ấp Sà Vần A, tôi không chỉ được nghe người dân nơi đây tính chuyện làm ăn, mà còn nghe bà con tính chuyện cho con cái học hành. Tôi hiểu rằng, gánh nặng áo cơm có được giải quyết thì bà con mới có thể nhìn xa hơn đến tương lai. Ông Phan Quốc Lâm, Bí thư Chi bộ ấp Sà Vần A, bộc bạch: “Trước đây, ấp chưa có hệ thống thủy lợi, bà con làm nông rất vất vả, chi phí cao nên thu nhập chẳng được bao nhiêu. Bây giờ, hệ thống bơm tưới hoàn chỉnh, bà con chuyển sang trồng đậu phộng, bắp lai, khấm khá hơn rất nhiều. Ấp tôi đã có sinh viên đại học rồi đấy!”. Ông Thạch Sươne, có đứa con gái đang học Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Trà Vinh, thường được bà con trong ấp nhắc đến như một tấm gương. Có người hỏi nhà có 15 công ruộng, 8 con bò, thu nhập khá, nhưng sao vợ chồng ông vẫn sống trong căn nhà vách ván, ông bảo: “Tiền để dành lo cho các con học hành. Có học mới thoát nghèo bền vững!”.
 |
|
Niềm vui trúng mùa hành của nông dân xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Ảnh: THANH TÚ |
“Thoát nghèo”- chỉ 2 chữ đơn giản ấy nhưng là mơ ước, nỗ lực của bao con người. Chúng tôi cảm nhận được niềm vui thoát nghèo lớn lao như thế nào khi nghe anh Thạch Sơn, ở ấp Đại Ruộng, xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, thốt lên: “Trả được sổ hộ nghèo, mình vui còn hơn Tết”. Anh Sơn có 4 công đất, nhưng do thiếu vốn, kinh nghiệm nên cứ làm đâu lỗ đó, đến nỗi có thời gian phải cầm cố đất. Năm 2004, anh được hỗ trợ chuộc lại đất và được xã hỗ trợ hành giống, 1 con bò, vốn đầu tư... Nhưng điều quan trọng hơn là cán bộ khuyến nông hướng dẫn cặn kẽ cách trồng trọt, chăm sóc... Anh kể: “Trên 4 công đất, mình luân phiên trồng lúa, lấy rơm để đậy hành, thu hoạch hành xong thì trồng củ cải trắng. Bây giờ, hằng năm mình có lời trên 20 triệu đồng”. Không chỉ mừng cho bản thân thoát nghèo, anh còn tự hào trước những đổi thay của quê hương: “Cách nay mười năm, từ Đại Ruộng ra chợ huyện chỉ chừng chục cây số, nhưng ngồi xe bò hơn tiếng đồng hồ. Bây giờ, có việc ra chợ huyện, chỉ mất hơn 15 phút đi xe hon-đa. Mấy năm trước, mình còn phải gánh từng đôi nước tưới rẫy, mất cả buổi mới tưới xong; còn nay chỉ cần bật cầu dao điện, tưới chừng nửa giờ là xong, còn thời gian làm việc khác”.
Quả thật, trở lại Vĩnh Châu, nhiều người không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay của vùng đất này. Chiếc phà qua sông Mỹ Thanh đã được thay bằng cây cầu lớn nhất tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh lộ 11 dẫn về Vĩnh Châu đã được láng nhựa, xe chạy êm ru. Dọc hai bên đường là vô số vuông tôm chạy dài hàng chục cây số, những trụ điện cứ nối nhau vun vút như không có điểm dừng. Xa xa là những trụ tháp truyền dẫn các dịch vụ viễn thông. Vẫn còn đó những cánh đồng hành tím bạt ngàn, nhưng thay cho những chiếc xe bò lộc cộc chở hành ngày nào giờ là những chiếc xe tải ra vào tấp nập. Anh Sơn Dêm, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Châu, không giấu niềm vui: “Từ ngày có tuyến đê bao ven biển, dân vùng đất giồng làm ăn được, vươn lên khá giả. Nhờ những vụ hành tím, củ cải trắng trúng mùa được giá, nhiều căn nhà mới mọc lên”.
Ngoài các Chương trình 135,134, xã Vĩnh Châu còn được Tỉnh ủy Sóc Trăng chọn là một trong 2 xã điểm chỉ đạo thực hiện Nghị quyết về phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống dân trí vùng đồng bào dân tộc Khmer. Trong vòng vài năm, xã Vĩnh Châu được đầu tư hàng chục tỉ đồng xây dựng hệ thống giao thông, điện, nước sạch, trường học, trạm y tế, hỗ trợ vốn sản xuất, nhà ở... Nhờ vậy, hệ thống giao thông liên ấp, khu dân cư đều hoàn chỉnh, lưới điện quốc gia phủ kín các khu dân cư. Hiện nay, 85% hộ dân ở Vĩnh Châu đã được sử dụng nước sạch, trên 90% hộ dân sử dụng điện an toàn. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 50% xuống còn khoảng 28%. Trong 3 năm gần đây, mỗi năm xã Vĩnh Châu được đầu tư cất 300-500 căn nhà từ Chương trình 134. Anh Sơn Diêm hào hứng cho biết: “Xã vừa được tỉnh hỗ trợ mua 1 ha đất để qua Tết khởi công xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Hy vọng đời con cháu mình sẽ sung túc hơn đời mình nhiều!”.
***
Chúng tôi rời Vĩnh Châu trong cái se lạnh của tiết trời cuối năm, nhưng lòng ấm áp vô cùng trước niềm vui của anh Sơn Dêm, cũng chính là niềm vui của bà con bao vùng nông thôn khác: “Đời con cháu mình sẽ sung túc hơn đời mình nhiều!”. Dẫu còn không ít khó khăn, nhưng những gì đạt được hôm nay là nền tảng vững chắc để nông thôn ĐBSCL phát triển nhanh, mạnh hơn trong tương lai...